Những hối tiếc sâu sắc nhất giúp bạn thấu hiểu chính mình rõ ràng hơn
Chẳng hề là một sự phí phạm thời gian, những hối tiếc luôn ám ảnh bạn lại soi chiếu bản thể bạn sâu sắc hơn bất kỳ thành công nào từng làm được.
Edith Piaf từng cất tiếng hát “Non, je ne regrette rien” (Tôi không hối tiếc điều gì), trong khi Frank Sinatra dẫu thừa nhận có đôi chút tiếc nuối nhưng rồi cũng gạt đi: “nhưng thôi, ít lắm chẳng đáng để nhắc tới.” Có lẽ Piaf sở hữu một trí nhớ kém, và biết đâu Sinatra lại không muốn gợi cho chúng ta nhớ về vô số niềm hối tiếc của ông; thế nhưng, cả hai đều đang bày tỏ một quan điểm phổ biến: hối tiếc là một sự vô bổ. Đúng như Phu nhân Macbeth, người hơn ai hết hiểu rõ cái giá của sự hối tiếc, đã quả quyết: “Những gì chẳng thể cứu vãn / Thì đừng bận lòng làm chi. Chuyện đã rồi cứ để nó trôi qua.” Bạn đã làm hỏng chuyện? Hãy vượt qua nó và tiếp tục bước tiếp.
Thế nhưng, lời khuyên này không chỉ xa rời thực tế. Nó còn hoàn toàn sai lầm. Nếu được tiếp cận một cách thành thật, hối tiếc chính là một trong những công cụ soi chiếu rõ ràng nhất giúp ta nhận diện bản thể mà mình luôn hướng tới.
Dưới đây là một ví dụ từ chính cuộc đời tôi. Âm nhạc luôn là một trong những niềm vui lớn nhất đời tôi và bản thân tôi cũng có chút thiên năng âm nhạc. Không phải thứ tài năng xuất chúng, nhưng đủ để gọi là có. Dù không hề hối tiếc vì đã không trở thành một nghệ sĩ piano chuyên nghiệp (bởi con đường đó vượt quá xa khả năng của tôi), tôi lại mang niềm hối tiếc trước một thất bại khiêm tốn hơn: đã không đủ kiên trì để chơi trọn vẹn một bản dạ khúc của Chopin. Niềm hối tiếc ấy nhói lên đau đớn chính vì đó từng là một khả năng hoàn toàn tương thích với năng lực của tôi. Nhìn nhận sự thiếu kỷ luật đáng tiếc của bản thân, tôi tự biết rằng dẫu là hiện tại, có lẽ mình cũng chẳng còn đuổi theo nó nữa.
Dĩ nhiên, luôn có một sự thừa nhận quen thuộc: hối tiếc là điều có thể chấp nhận được nếu chúng ta học được từ những sai lầm của mình. Nhưng cách nhìn này đã vô tình xem nhẹ giá trị thực sự của sự hối tiếc. Nó coi hối tiếc chỉ như một công cụ để điều chỉnh hướng đi, thay vì là một nguồn cội giúp ta thấu hiểu bản thân. Theo lý mà nói, một khi đã rút ra bài học, sự hối tiếc đáng lẽ phải biến mất. Thế nhưng, khi nó vẫn ở lại (và đó lại là điều thường xảy ra), chúng ta lại ngỡ rằng có điều gì đó không ổn đang xảy ra với mình. Dù vậy, những niềm hối tiếc ấy tiếp tục dai dẳng không phải vì chúng ta mắc chứng hoang tưởng hay lệch lạc tâm lý, mà bởi vì chúng đang thực hiện một chức năng mà ta hiếm khi nhận ra.
Hối tiếc, cũng như những cảm xúc khác, vừa là một trải nghiệm xúc cảm vừa là một sự đánh giá mang tính nhận thức. Không giống như các trạng thái sinh lý của cơ thể như đói hay mệt mỏi, cảm xúc luôn hướng đến một đối tượng cụ thể. Sợ hãi là sợ một mối đe dọa; tức giận là tức giận một ai đó. Tương tự, hối tiếc luôn hướng về một lựa chọn nhất định – một hành động đã làm hoặc đã bỏ lỡ, mà ở đó ta tự thấy bản thân phải chịu trách nhiệm.
Yếu tố trách nhiệm này đóng vai trò rất quan trọng. Chúng ta vẫn thường nói "tôi rất tiếc" trước những sự kiện mà mình không hề gây ra, như một thiên tai hay một căn bệnh của người bạn. Nhưng đó không phải là sự hối tiếc theo đúng nghĩa mà ta đang lạm bàn ở đây. Hối tiếc luôn bắt nguồn từ những quyết định của con người. Bạn không thể hối tiếc vì đã lỡ lời tàn nhẫn trừ khi bạn tin rằng chính mình đã nói ra điều đó, cũng giống như bạn không thể tức giận một ai đó vì một lời xúc phạm mà bạn biết họ chưa từng thốt ra.
Từ "hối tiếc" bao hàm rất nhiều trường hợp khác nhau, từ những hành vi sai trái về mặt đạo đức cho đến những băn khoăn, tự vấn nhỏ nhặt thường ngày. Các nhà triết học đôi khi định danh một dạng hối tiếc đặc thù là "hối tiếc của chủ thể hành động", niềm hối tiếc về những hệ quả do chính ta gây ra, ngay cả khi ta không có lỗi về mặt đạo đức. Bernard Williams đã minh họa điều này qua ví dụ về một tài xế xe tải, dù không hề mắc bất kỳ lỗi nào, đã vô tình cán tử vong một đứa trẻ bất ngờ lao ra đường. Người tài xế không đáng bị khiển trách, nhưng niềm hối tiếc của ông lại là điều hoàn toàn thấu hiểu được. Chúng ta vẫn luôn kỳ vọng một lời xin lỗi, ngay cả trước những tổn hại chỉ do tai bay họa gió gây ra.
Hối tiếc của chủ thể hành động trải dài từ những chuẩn mực đạo đức cho đến những điều bình dị thường ngày: một công việc đã bỏ lỡ, một ngôn ngữ chưa kịp học, một món đồ lỡ mua thiếu suy nghĩ, hay một quyết định làm thay đổi cả cuộc đời. Điều kết nối tất cả những trạng thái ấy không phải là trọng lượng đạo đức của chúng, mà là sợi dây liên kết với cách ta tự nhận thức bản thân như những chủ thể hành động, những con người sẵn sàng gánh lấy trách nhiệm cho cuộc đời mình khi thừa nhận rằng bản thân hoàn toàn đã có thể lựa chọn khác đi.
Sự hối tiếc sâu sắc hé lộ những khả năng chưa thành hiện thực nhưng vẫn tha thiết gắn liền với ta
Có những niềm hối tiếc đè nặng lên tâm trí; nhưng cũng có những tiếc nuối thì không. Trong trường hợp của tôi, bản dạ khúc chưa thể chơi trọn vẹn ấy vẫn miên man gặm nhấm, nhưng không phải mọi khả năng bị bỏ lỡ trong đời đều có sức nặng như thế. Sự khác biệt này mang một ý nghĩa rất lớn. Khi còn là một đứa trẻ, tôi từng mơ trở thành một huyền thoại bóng chày, một Hank Aaron tiếp theo. Thế nhưng, tôi chưa từng hối tiếc vì đã không thể bước chân vào Ngôi đền Huyền thoại (Hall of Fame). Cuộc đời đó vốn dĩ chưa bao giờ thực sự dành cho tôi. Tôi thiếu cả năng lực cần thiết lẫn cơ hội, và ở hiện tại, tôi cũng chẳng còn khao khát cuộc sống trong tưởng tượng đó hơn cuộc sống thực tại mình đang có. Kịch bản phản thực ấy đơn giản là không gợi lên trong tôi bất kỳ sự đồng điệu nào.
Thế nhưng, có những thất bại lại dội vào lòng ta những dư âm khắc khoải. Danh sách những thành tựu mà tôi hoàn toàn có thể thực sự theo đuổi vốn rất dài: tôi đã có thể học tiếng Tây Ban Nha, dành nhiều thời gian hơn ở nước ngoài, hay giữ liên lạc với những người bạn cũ. Sự ranh giới giữa những cuộc đời trong tưởng tượng và những lựa chọn thay thế mang tính thực tế này giải thích vì sao việc lỡ chuyến bay chỉ năm phút lại mang cảm giác tồi tệ hơn nhiều so với việc trễ những ba tiếng, và vì sao thua vé số chỉ sai một chữ số lại đau đớn hơn hằn so với lệch mất bảy số. Thế giới khi ấy chỉ cần khác đi một chút thôi là mọi chuyện đã êm đẹp. Thực tại thay thế ấy cảm giác như ở ngay sát bên ta, gần đến mức khiến ta không khỏi nhói lòng.
Sự hối tiếc sâu sắc không chỉ hé lộ những điều ta ước gì đã xảy ra khác đi, mà còn soi chiếu những khả năng chưa thành hiện thực nào vẫn đang tha thiết gắn liền với bản thể ta. Đây chính là trạng thái hối tiếc có thể làm sáng tỏ những giá trị ta theo đuổi, cách ta tự nhận thức bản thân, cũng như cách ta đo đếm những tiềm năng và giới hạn của chính mình.
Để thấy được sự hối tiếc đóng vai trò như một công cụ chẩn đoán tâm lý ra sao, việc so sánh nó với người "anh em họ" của mình, sự đố kỵ, là vô cùng hữu ích. Ít ai đố kỵ với hàng tỷ đô la của Jeff Bezos hay tài năng thể thao thiên bẩm của Tom Brady, bởi những thành tựu đó nằm hoàn toàn ngoài tầm hạn của những khả năng thực tế mà ta tự nhận thức. Thế nhưng, đố kỵ với thành công của một người đồng nghiệp hay sự siêng năng của một người bạn lại là điều dễ dàng hơn rất nhiều, bởi những thành tựu tương tự vốn dĩ quá đỗi khả thi. Do đó, sự đố kỵ soi chiếu vị trí mà ta tự đặt mình trong mối tương quan với người khác ở những khía cạnh thực sự có ý nghĩa đối với ta.
Sự hối tiếc cũng mang lại một góc nhìn thấu suốt tương tự. Bằng việc hé lộ những lựa chọn thay thế từng thực sự nằm trong tầm tay, nó phác họa một bức chân dung bản thể rõ nét hơn, một bức chân dung vốn thường bị mờ nhòe. Cả hai cảm xúc này đều mang lại sự khó chịu vì cùng một lý do: chúng phơi bày những điều từng được cho là hoàn toàn có thể xảy ra. Sự đố kỵ có thể được xoa dịu bằng cách thay đổi nhóm xã hội hoặc xoáy sâu vào khuyết điểm của người khác; còn sự hối tiếc lại bị làm mòn đi khi ta tự huyễn hoặc về những niềm hối tiếc khác mà mình sẽ phải đối mặt nếu lỡ chọn con đường khác. Những cơ chế chống đỡ này tuy giúp giảm bớt sự khó chịu, nhưng chúng cũng đồng thời che lấp đi sự tự đánh giá bản thân một cách trung thực.
Ta không chỉ hối tiếc về những gì mình đã làm, ta hối tiếc về con người mà mình đã dung dưỡng trở thành
Tuy nhiên, giá trị chẩn đoán của sự hối tiếc lại phụ thuộc vào việc ta đang thực sự hối tiếc về điều gì. Không phải niềm hối tiếc nào cũng soi chiếu bản thể rõ ràng như nhau. Liệu con người ta hối tiếc nhiều hơn về những việc mình đã làm mà đáng lẽ không nên, hay những việc mình chưa làm mà đáng lẽ phải thực hiện? Điều đó còn tùy. Trong ngắn hạn, sự hối tiếc diễn ra mạnh mẽ nhất đối với những hành vi ta đã trót làm, một lời nhận xét thiếu suy nghĩ, một quyết định mua sắm bốc đồng. Điều đó là bởi, như Daniel Kahneman và Amos Tversky đã chỉ ra, các hành động cụ thể thường dễ bị tâm trí "tái đảo ngược" hơn, khiến cảm giác hối tiếc trở nên nhói buốt ngay tại thời điểm đó. Nhưng theo thời gian, chúng ta lại hối tiếc nhiều hơn về những gì mình đã bỏ lỡ – một phát hiện xuất phát từ nghiên cứu của Thomas Gilovich và Victoria Medvec. Những hành động sai lầm tuy nhói đau sắc lẹm rồi cũng nhạt hòa theo năm tháng; còn những trót lỡ không hành động lại ngày càng đè nặng theo thời gian. Khi ngoảnh lại nhìn ngắm cuộc đời mình, chính những điều chưa làm ấy mới là niềm hối tiếc sâu sắc nhất, một mối quan hệ không dũng cảm theo đuổi, hay một cơ hội quý giá đã vô tình để tuột mất qua kẽ tay.
Điều này giúp giải thích vì sao những "chiêm nghiệm trên giường bệnh" lại có sức hút đến vậy. Sự hấp dẫn khi lắng nghe lời thì thầm của những người sắp giã từ cõi đời nằm ở chỗ: người ta tin rằng họ sở hữu một sự thành thật và minh triết đặc biệt khi ngoảnh lại nhìn ngắm cuộc đời mình. Thế nhưng, chúng ta nên cẩn trọng trước khi đưa ra kết luận từ những lời bộc bạch này. Thứ nhất, những nghiên cứu mang tính thực nghiệm nghiêm ngặt về những gì con người thực sự thốt ra ngay trước khi qua đời vẫn còn rất hạn chế. Thứ hai, chẳng có lý do gì để ưu ái hay coi trọng những tiếc nuối trên giường bệnh, vốn dĩ có thể chỉ phản ánh trạng thái tâm lý tạm thời lúc bấy giờ của một người, chứ không hẳn là những trăn trở họ đã ôm ấp suốt cả cuộc đời. Tất cả chúng ta đều dễ rơi vào thiên kiến nhận thức muộn – tức xu hướng đánh giá các quyết định trong quá khứ như thể chúng vốn dĩ đã quá rõ ràng, dù thực chất ở thời điểm đó mọi chuyện chẳng hề dễ đoán. Ở chặng cuối cuộc đời, một người có thể ước rằng mình đã bớt vùi đầu vào công việc dù điều đó đồng nghĩa với việc kiếm được ít tiền hơn, nhưng biết đâu sự chăm chỉ ấy lại là một lựa chọn hoàn toàn hợp lý dựa trên những gì họ biết vào thời điểm đó. Không phải cứ đến hồi kết của cuộc đời là nghiễm nhiên ta sẽ trở nên minh triết hơn.
Mặc dù vậy, vẫn tồn tại một góc nhìn sâu sắc trong những trăn trở lúc nhắm mắt xuôi tay: đó là sự chuyển dịch tâm điểm từ hành vi sang khuynh hướng tính cách. Trong những giờ phút cuối cùng, người ta chẳng còn hối tiếc vì một chuyến bay lỡ dở hay một ván bài chơi lỗi. Thay vào đó, họ hối tiếc về những nét tính cách dai dẳng của bản thân, những hận thù họ đã ôm giữ suốt nhiều thập kỷ, hay sự cố chấp đã băm vằn một tình bạn. Và sự nhận thức này trỏ đến một chiều kích vốn bị ngó lơ của niềm hối tiếc: chúng ta không chỉ hối tiếc về những gì mình đã làm, chúng ta hối tiếc về con người mà mình đã dung dưỡng trở thành.
Hầu hết các thảo luận về sự hối tiếc đều xoay quanh các hành động cụ thể. Nhưng những niềm hối tiếc sâu xa nhất lại chạm đến nhân cách. Hãy nghĩ về những con người lúc nào cũng ngùn ngụt giận dữ hay có thói quen đổ lỗi cho người khác, những nét tính cách ấy nhào nặn cuộc đời mạnh mẽ hơn bất kỳ một quyết định đơn lẻ nào. Ấy thế mà, chúng lại nhận được quá ít sự bận tâm mỗi khi chúng ta cất lời nói về sự hối tiếc.
Có một vài lý do giải thích cho điều này. Các hành động cụ thể vốn rõ ràng và dễ dàng nhận diện: chúng ta biết rõ mình đã làm gì hoặc chưa làm gì, trong khi các nét tính cách lại mơ hồ và khó định hình hơn. Nhưng lý do chính khiến chúng ta ngó lơ những hối tiếc về nhân cách là bởi ta cảm thấy các nét tính cách dường như ít mang tính tự nguyện hơn. Chúng ta không tự chọn cha mẹ, chiều cao hay nguồn gen được thừa hưởng, và các nét tính cách – chẳng hạn như sự lười biếng hay tính nhút nhát – cũng thường được coi là những yếu tố cố định tương tự. Thế nhưng, như Aristotle từng quả quyết từ thời cổ đại và vô số bằng chứng thực nghiệm ngày nay đã chứng minh, nét tính cách của chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi theo thời gian và ta có thể chủ động tạo ra những thay đổi đó. Khi chúng ta đáng lẽ phải thay đổi mà lại không làm, ta có rất nhiều điều để phải hối tiếc.
Đối diện với những khuyết điểm trong tính cách là một trải nghiệm chẳng mấy dễ chịu, vì vậy ta thường dễ xuôi theo cảm giác muốn né tránh. Các nghiên cứu chỉ ra rằng con người ta thường nhận diện nét tính cách của mình tốt hơn khi chúng hiển nhiên trong mắt người khác và không mang hàm ý nghiêm trọng về mặt đạo đức. Hầu hết mọi người đều biết mình là người lắm lời hay hướng nội, nhưng lại ít khi chịu thừa nhận những nét tính cách tiêu cực như sự cố chấp hay hẹp hòi. Khi phải đối mặt với một khuyết điểm nghiêm trọng, cơ chế tự vệ dễ dàng nhất thường chỉ là một cái nhún vai: "Tôi vốn dĩ là như thế rồi."
Thế nhưng, cái nhún vai ấy bản chất lại là một sự lựa chọn. Trong công trình có ảnh hưởng sâu rộng về động lực tinh thần – Mindset: Tâm lý học thành công (2006), Carol Dweck đã phân biệt giữa tư duy cố định – niềm tin rằng các năng lực là hằng định, và tư duy phát triển, nơi những thất bại trở thành cơ hội để vươn lên. Tương tự như vậy, các nét tính cách cũng được nhào nặn bởi chính những giả định của chúng ta về chúng, và những giả định thì hoàn toàn có thể thay đổi. Sự hối tiếc, nếu được lắng nghe một cách thấu đáo, có thể chỉ ra cho ta chính xác nơi cần bắt đầu để tạo nên những chuyển biến ấy.
Sự thật cốt lõi ở đây là: những cuộc đời ta không sống chẳng phải là những đoạn phim thừa bị cắt bỏ; chúng là một phần thuộc về cấu trúc tự sự trong chính cuộc đời thực tại, miên man tiếp diễn của ta. Bằng cách soi chiếu kỹ lưỡng những gì mình thực sự hối tiếc, những hành động cụ thể ta đã làm hoặc bỏ lỡ, cũng như những nét tính cách tiêu cực đang định hình cuộc sống của mình, ta sẽ thu nhận được một sự thấu hiểu giàu có hơn về khái niệm bản thể. Cần phải thừa nhận rằng, có những điều khám phá ra ta buộc phải học cách chấp nhận. Nhưng cũng sẽ có những niềm hối tiếc mở ra những khả năng mới, và chính những khả năng vẫn luôn ám ảnh ta ấy lại soi chiếu bản thể ta sâu sắc hơn bất kỳ thành công nào từng làm được. Biết đâu đấy, rốt cuộc tôi vẫn có thể học chơi bản dạ khúc ấy thì sao.

