Nỗi đau tột cùng: khi trầm cảm mang sắc màu u uất
Nhận diện và thấu hiểu các thể của trầm cảm nặng.
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH
- Trầm cảm u uất mang theo nỗi buồn nặng nề đến nghẹt thở, cảm giác tội lỗi không thể chịu đựng nổi, cùng tình trạng mất ngủ và sụt cân trầm trọng.
- Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng trầm cảm u uất bắt nguồn sâu xa từ những biến đổi sinh học trong cơ thể.
- Việc can thiệp bằng y khoa như thuốc đặc trị và liệu pháp sốc điện thường là những mắt xích không thể thiếu trong quá trình điều trị.
Như bạn bắt đầu nhận thấy, trầm cảm nặng (MDD) có rất nhiều "gương mặt" khác nhau. Chẳng có gương mặt nào là dễ chịu, và mỗi loại lại đòi hỏi một phương pháp chữa trị riêng biệt. Có lẽ, mảng màu tối tăm nhất trong bức tranh trầm cảm chính là thể u uất (melancholic features).
Đáng buồn thay, người bệnh có thể phải chịu đựng nhiều triệu chứng cùng lúc trong một đợt trầm cảm. Cơn ác mộng kinh khủng nhất chính là khi trầm cảm u uất đi kèm với các triệu chứng loạn thần, một sự đày đọa tột cùng về tâm trí.
Thuật ngữ "melancholia" (u uất), hay còn gọi là "mật đen", được người Hy Lạp cổ đại khởi xướng. Thời bấy giờ, người ta tin rằng sự mất cân bằng của các loại dịch mật trong cơ thể sẽ chi phối tính cách và tâm trạng; và khi lượng mật đen quá dư thừa, nó sẽ nhấn chìm con người ta vào trạng thái u tối này. Ngày nay, y học công nhận trầm cảm u uất thực chất là một vấn đề tâm trạng "nội sinh". Điều này có nghĩa là nó nảy sinh từ bên trong cơ thể hoặc do di truyền; người ta không rơi vào trầm cảm u uất chỉ vì những áp lực hay biến cố từ môi trường bên ngoài.
Thực tế, nhiều nhà nghiên cứu đồng ý rằng những người mắc thể u uất có sự biến đổi rõ rệt trong trục hạ đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận (HPA), dẫn đến sự gia tăng nồng độ cortisol, một loại hormone gây căng thẳng (theo Fink & Taylor, 2007; Parker và cộng sự, 2010; Juruena và cộng sự, 2018). Điều này càng củng cố thêm giả thuyết về nguồn gốc sinh học của bệnh. Chính vì những đặc điểm riêng biệt này, suốt nhiều năm qua, một số chuyên gia đã lập luận rằng trầm cảm u uất nên được coi là một hội chứng độc lập thay vì chỉ là một nhánh nhỏ của bệnh trầm cảm.
Hiện nay, số liệu chính xác về tỉ lệ người mắc trầm cảm u uất vẫn chưa được ghi nhận đầy đủ. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu như Parker và cộng sự (2010) tin rằng tình trạng này thường bị bỏ sót trong quá trình thăm khám. Vào năm 2017, Łojko & Rybakowski lưu ý rằng khoảng 25-30% người bệnh trầm cảm có vẻ đáp ứng các tiêu chuẩn của thể u uất. Chính việc không nhận diện đúng bệnh có thể khiến bệnh nhân bị dán nhãn là "trầm cảm kháng thuốc". Bởi lẽ, như bạn sẽ thấy, trầm cảm u uất đòi hỏi những phương thức can thiệp rất đặc thù.
Bên cạnh đó, Cuốn Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê các Rối loạn Tâm thần (DSM-5) cũng chỉ rõ rằng, những đặc điểm u uất không nhất thiết phải xuất hiện trong mọi đợt trầm cảm của người có cơ địa này. Dù chỉ là giả thuyết, nhưng điều này có thể giải thích là do tính chất "nội sinh" của thể u uất. Khi một người đã vượt qua được cơn u uất, họ vẫn có thể gặp phải những áp lực từ đời sống và rơi vào một đợt trầm cảm "thông thường" khác.

Source: Geralt/Pixabay
Diện mạo của nỗi đau
Trầm cảm thể u uất đặc trưng bởi một bầu không khí "nặng nề" đến mức có thể cảm nhận rõ rệt, đi kèm với tình trạng chán ăn nghiêm trọng và những bất thường về vận động tâm thần, thường biểu hiện qua sự bồn chồn, kích động. Khi tiếp xúc với những bệnh nhân này, ta có cảm giác như nỗi lo âu đau đớn đã ăn sâu vào tận xương tủy của họ. Hãy cùng nhìn vào trường hợp của Bobby:
Bác sĩ H. nhận được cuộc gọi khẩn thiết từ Sharon, vợ của Bobby, để xin một cuộc hẹn. Cô chưa bao giờ thấy chồng mình suy sụp đến thế. Khi gặp mặt, dáng vẻ của Bobby không chỉ dừng lại ở nỗi buồn đơn thuần; nó u ám, tối tăm và dường như tỏa ra từ chính con người anh. Bác sĩ H. có thể cảm nhận được một sự nặng nề bao trùm cả căn phòng. Người bệnh tội nghiệp ấy hoàn toàn kiệt sức vì thiếu ngủ; anh thú nhận mỗi đêm chỉ chợp mắt được vài tiếng không trọn vẹn rồi lại lang thang vô định trong nhà cho đến khi mặt trời mọc. Dù mới ngoài 20 tuổi nhưng trông anh héo hon như một con mãnh thú bị bỏ đói. Sharon kể rằng, cứ 6 giờ sáng cô lại thấy anh nằm thiếp đi trên ghế sofa, rồi anh lại bắt đầu dằn vặt, khóc nức nở trong lòng cô vì nghĩ mình đang hủy hoại cuộc đời vợ. Có những lúc, anh gọi điện đến chỗ làm của cô chỉ để thốt ra những lời xin lỗi. Khi đi ngủ, Sharon cố gắng gần gũi để giúp anh phấn chấn hơn, nhưng đáp lại mọi nỗ lực của cô, Bobby vẫn hoàn toàn lạnh lẽo. Vốn là một người đam mê nhiếp ảnh, vậy mà đã hơn một tháng nay anh không hề chạm vào chiếc máy ảnh nào.
Không chỉ có vậy, Bobby vốn là người có tâm hồn ăn uống, nhưng dạo gần đây anh chỉ cầm cự qua bữa, hờ hững đảo thức ăn trên đĩa. Mỗi sáng, anh cố uống vài tách cà phê thật đậm để tỉnh táo hơn. Đáng tiếc thay, nó chỉ làm anh thêm bồn chồn và chẳng thể ngồi yên một chỗ. Anh liên tục cựa quậy trên ghế và vặn vò đôi bàn tay trong văn phòng bác sĩ. Bobby kể với bác sĩ H. rằng anh nhớ hồi cuối tuổi thiếu niên mình cũng từng có cảm giác u tối và mất ngủ tương tự, nhưng chưa bao giờ dữ dội đến mức này. Nhận ra những biểu hiện điển hình của trầm cảm u uất, bác sĩ H. ân cần trấn an Bobby rằng ông sẽ đồng hành cùng anh vượt qua giai đoạn này. Tuy nhiên, trước mắt, vì tính chất nghiêm trọng của căn bệnh, Bobby cần được thăm khám khẩn cấp với bác sĩ tâm thần để điều trị bằng thuốc.
Theo cuốn Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê các Rối loạn Tâm thần (DSM-5), để một người được xác định là mắc trầm cảm thể u uất, họ cần có những biểu hiện sau:
Ít nhất một trong hai dấu hiệu:
- Mất khả năng cảm nhận niềm vui (Anhedonia): Không còn thấy hứng thú hay hạnh phúc với bất kỳ điều gì.
- Tâm trạng trơ lỳ: Cảm xúc không hề khởi sắc ngay cả khi đón nhận những tin vui hay những điều tuyệt vời nhất.
Và ít nhất ba trong số các dấu hiệu dưới đây:
- Tâm trạng u ám, tuyệt vọng: Nỗi buồn này "nặng nề" đến mức người xung quanh có thể cảm nhận rõ rệt, nó khác hẳn với nỗi buồn thông thường hay các trạng thái trầm cảm khác.
- Tình trạng trầm cảm thường tồi tệ hơn vào buổi sáng.
- Thường xuyên thức giấc từ rất sớm.
- Rối loạn vận động tâm thần: Có thể là sự bồn chồn, bứt rứt không yên hoặc ngược lại, cơ thể trở nên chậm chạp, lờ đờ.
- Sụt cân đáng kể.
- Luôn cảm thấy tội lỗi một cách thái quá hoặc vô lý.
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu Parker và cộng sự (2010) lưu ý rằng, dù các triệu chứng loạn thần không nằm trong tiêu chuẩn chẩn đoán truyền thống, chúng vẫn thường xuất hiện ở thể bệnh này. Người bệnh thường bị ám ảnh bởi những ý nghĩ về tội lỗi, lỗi lầm hoặc sự đổ vỡ, tiêu tan. Họ cũng thường gặp khó khăn cực độ trong việc tập trung.
Câu chuyện về điều trị
Như đã đề cập, thể trầm cảm này mang đậm yếu tố sinh học. Vì vậy, các chuyên gia tâm lý đều đồng ý rằng trị liệu tâm lý đơn thuần không phải là điểm bắt đầu hiệu quả, và tuyệt đối không nên là phương án duy nhất khi đã xác định được bệnh. Tất nhiên, trò chuyện tâm lý vẫn có giá trị trong việc giúp người bệnh đối phó với sự căng thẳng, hoặc giúp gia đình thấu hiểu nhau hơn trước những xáo trộn mà căn bệnh gây ra cho tổ ấm.
Điều quan trọng nhất là cần kết nối ngay với bác sĩ tâm thần, bởi người mắc thể u uất thường đáp ứng tốt với một số loại thuốc chống trầm cảm nhất định. Đặc biệt, các loại thuốc chống trầm cảm ba vòng (như Elavil, Pamelor hay Tofranil) tỏ ra rất hiệu quả theo các nghiên cứu (như Perry, 1996; Bodkin & Goren, 2007). Điều này hoàn toàn có cơ sở, vì nhóm thuốc này thường giúp người bệnh ăn ngon hơn, dễ ngủ hơn và xoa dịu sự lo âu, bồn chồn. Với những trường hợp nặng, có thể cần đến các can thiệp sinh học khác như liệu pháp sốc điện (ECT) hoặc kích thích từ trường xuyên sọ (TMS). Theo ghi chép của Kaplan (2010), có tới khoảng 60% bệnh nhân trầm cảm được chỉ định sốc điện thuộc nhóm trầm cảm u uất này.
Như đã chia sẻ ở bài viết trước về trầm cảm đi kèm lo âu, sự bồn chồn quá mức là một yếu tố nguy cơ dẫn đến tự sát. Giờ đây, hãy thử hình dung sự kết hợp giữa nỗi tuyệt vọng u uất, tình trạng mất ngủ kéo dài và sự kích động không ngừng, cộng thêm những ảo giác loạn thần; chúng ta sẽ thấy tình hình nghiêm trọng đến mức nào. Những bệnh nhân ở trạng thái này thường cần được nhập viện để chăm sóc và bảo vệ. Việc đánh giá kỹ lưỡng các đặc điểm u uất ở người bệnh trầm cảm, theo đúng nghĩa đen, chính là một hành động cứu mạng.
References
Anderson, R., Hoy, K., Daskalakis, Z., & Fitzgerald, P. (2016). Repetitive transcranial magnetic stimulation for treatment resistant depression: Re-establishing connections. Clinical Neurophysiology, 127 (11), 3394-3405.
Baeken, C., De Raedt, R., Van Hove, C., Clerinx, P., De Mey, J., & Bossuyt, A. (2009). HF-rTMS treatment in medication-resistant melancholic depression: Results from 18FDG-PET Brain Imaging. CNS Spectrums, 14(8), 439-448. doi:10.1017/S1092852900020411
Bodkin, J.A., Goren, J.L. (2007, September). Not obsolete: continuing roles for tca's and maoi's. Psychiatric Times, 24(10). https://www.psychiatrictimes.com/view/not-obsolete-continuing-roles-tca…
Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fifth Edition. Arlington, VA: American Psychiatric Association, 2013.
Fink M., Taylor M.A. (2007) Resurrecting melancholia. Acta Psychiatr Scand. 115, (Suppl. 433), 14-20. https://deepblue.lib.umich.edu/bitstream/handle/2027.42/65798/j.1600-04…
Juruena, M., Bocharova, M., Agustini, B., and Young, A. (2018). Atypical depression and non-atypical depression: Is HPA axis function a biomarker? A systematic review. Journal of Affective Disorders, 233, 45-67.
Kaplan, A. (2010). Whither melancholia? Psychiatric Times, 27(1). Retrieved from https://www.psychiatrictimes.com/mood-disorders/whither-melancholia
Kellner, C., & Fink, M. (2017). ECT for catatonia and melancholia: No need for ambivalence. Psychiatric Times, 43(9). Retrieved from https://www.psychiatrictimes.com/view/ect-catatonia-and-melancholia-no-…
Łojko, D., & Rybakowski, J. K. (2017). Atypical depression: current perspectives. Neuropsychiatric disease and treatment, 13, 2447–2456. https://doi.org/10.2147/NDT.S147317
Parker G., Fink M., Shorter E., et al. (2010). Issues for DSM-5: Whither melancholia? The case for its classification as a distinct mood disorder. American Journal of Psychiatry, 167(7):745-747. doi:10.1176/appi.ajp.2010.09101525
Perry P.J.(1996) Pharmacotherapy for major depression with melancholic features: Relative efficacy of tricyclic versus selective serotonin reuptake inhibitor antidepressants. Journal of Affective Disorders, 39, 1-6.
Vermeiden, M., Kamperman, A., Hoogendijk, W., van den Broek, W., & Birkenhager, T. (2018). Outcome of a three-phase treatment algorithm for inpatients with melancholic depression. Progress in Neuro-psychopharmacology and Biological Psychiatry, 84, 214-220. https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0278584617309776…
Tác giả: Anthony D. Smith LMHC
Nguồn: The Darkest Mood: Major Depression With Melancholic Features | Psychology Today
.png)
