Về cách bất đồng

ve-cach-bat-dong

Chúng ta đang sống trong một thế giới ngập tràn những bất đồng.

Chúng ta đang sống trong một thế giới ngập tràn những bất đồng. Con người tranh cãi về hầu như mọi thứ: từ lúc nào nên gọi taxi, nên ra ngoài ăn tối hay không, cho đến việc có nên tồn tại một chế độ caliphate; từ quỹ đạo mà Trạm Vũ trụ Quốc tế nên theo; cách nấu lasagna cho đúng điệu, cho đến việc Hungary thuộc Đông Âu hay Trung Âu, và một đứa trẻ nên được chơi Minecraft bao lâu vào sáng thứ Bảy.

Bất đồng có thể diễn ra một cách văn minh, thú vị và mang tính xây dựng, nhưng quá thường xuyên, nó lại trở thành một nguồn đau khổ mạnh mẽ: ta nổi giận và bối rối; ta sững sờ trước quan điểm của người khác và bị chúng làm phiền sâu sắc; ta cảm thấy thất bại, tuyệt vọng và cô đơn; ta dằn vặt, một mình diễn đi diễn lại cuộc xung đột trong đầu, lo lắng, thấy tội lỗi, buồn bực…

Bất đồng trở nên đặc biệt gay gắt trong thời điểm hiện nay, bởi một số lực đẩy xã hội lớn đã âm thầm tích tụ suốt vài thế kỷ qua.

1. Chính trị

Thế giới phát triển ngày nay là thế giới dân chủ. Từ lâu, chúng ta đã rời xa thói quen cúi đầu tuân phục và những trật tự thứ bậc, nơi phần lớn mọi người không cảm thấy mình có vai trò hay tiếng nói đáng kể về nhiều vấn đề.

Khi ai cũng có quyền bỏ phiếu, thì suy nghĩ của mỗi người đều trở nên quan trọng. Việc có quan điểm không còn là một đặc ân, mà thực sự là một nhu cầu thiết yếu của một nền dân chủ vận hành tốt: ta cần có ý kiến về mọi thứ, từ việc ai nên cầm quyền cho đến việc các nhà máy điện hạt nhân nên được đặt ở đâu. Nhưng trong khi chúng ta được khuyến khích phải có chính kiến, thì lại rất ít sự chú ý được dành cho câu hỏi: ta sẽ làm gì khi, dường như luôn luôn là vậy, những quan điểm ấy va chạm gay gắt với quan điểm của những công dân khác quanh mình.

2. Những mối quan hệ bình đẳng

Hỏi bất kỳ cặp đôi nào xem họ bất đồng về điều gì là một trải nghiệm vừa hấp dẫn vừa an ủi: ta nhận ra rằng mình không hề đơn độc.

Đồng thời, bất đồng trong các mối quan hệ ngày nay lại gây xáo trộn nhiều hơn trước kia, bởi trong quá khứ, những kỳ vọng thấp khiến xung đột vừa quen thuộc vừa phù hợp với mong đợi. Người ta ít bị tổn thương bởi bất đồng hơn, bởi ý niệm về một mối quan hệ hoàn toàn đồng thuận, thấu cảm và tương giao chưa từng được đặt ra, đó là một phát minh rất mới, chỉ xuất hiện (nhiều nhất là) từ giữa thế kỷ mười tám.

Còn có vấn đề về thứ bậc. Trong phần lớn lịch sử, chúng ta sống trong các xã hội phụ quyền: đàn ông là người giải quyết bất đồng trong gia đình. Ngày nay, có một cảm thức bình đẳng sâu sắc (dù xét về lịch sử vẫn còn khá mới mẻ), giữa các cặp đôi và cả với trẻ em. Chúng ta tin rằng các cặp đôi nên cùng nhau trò chuyện về niềm tin của mình, nên hiểu, quan tâm và tôn trọng tư duy của nhau. Không ai được làm “ông chủ” trong bất kỳ lĩnh vực riêng lẻ nào.

Điều này cũng mở rộng đến trẻ em: trẻ được xem như những nguồn suối của trực giác tự nhiên và những góc nhìn mới mẻ. Ý kiến của trẻ cũng xứng đáng được lắng nghe. Vì quá lo sợ rằng cái tôi của trẻ sẽ bị bóp nghẹt quá sớm, chúng ta khuyến khích trẻ có quan điểm về mọi khía cạnh của cuộc sống. Và hệ quả là, việc đi đến một quyết định về bất cứ điều gì, kể cả chuyện tối nay ăn gì, cũng có thể trở nên vô cùng khó khăn.

Sự ồn ào và hỗn độn dân chủ trong gia đình phản chiếu chính xác bức tranh của thế giới chính trị ngoài kia.

Không còn có thể cai quản bằng thứ bậc, nhưng cũng chưa đủ khả năng để đạt tới sự thấu hiểu và quản lý bất đồng, đó chính là thời điểm mà chúng ta đang đứng.

Càng gần gũi với ai đó, thì bất đồng càng có sức mạnh làm ta tổn thương. Và ta tổn thương bởi trong tình yêu, một khao khát sâu xa là tìm được một người hoàn toàn đồng ý với ta về mọi điều.

Nếu một người họ hàng xa không cùng gu phim ảnh, ta chẳng mấy bận tâm. Nhưng nếu người yêu không thấy một cảnh phim nào đó là buồn cười, ta có thể bắt đầu nghi ngờ nền móng của mối quan hệ.

Chúng ta đòi hỏi mức độ đồng thuận cao hơn rất nhiều trong các mối quan hệ cá nhân so với những lĩnh vực khác của đời sống, bởi ta mong muốn quan điểm của mình được xác nhận và thấu hiểu ở từng bước một.

Đó là bởi ở đây, ta mong manh hơn bất kỳ nơi nào khác.

3. Công nghệ

Công nghệ đã khiến sự bất đồng trở nên sống động và sắc nét hơn bao giờ hết. Chúng ta dễ dàng bị đặt vào thế phải đối diện với những thái độ gai góc, thô ráp của người khác – những điều mà cho đến không lâu trước đây, ta gần như không bao giờ chạm tới.

Chẳng hạn, khi theo dõi một bản tin của BBC về bài phát biểu của lãnh đạo phe đối lập, ta lập tức được “mở mắt” rằng có một người tên Cockshield cho rằng ông ta là một “con dòi xã hội chủ nghĩa xấu xí!”, và ta cũng được tiếp xúc với ý kiến của một người nào đó tên Phill Watts: “Ông ta chẳng hề quan tâm đến nước Anh, ông ta chỉ quan tâm đến sự nghiệp và tiền bạc của mình. Nếu thắng, ông ta chỉ tại vị bốn hay năm năm, rồi sau đó nhận một khoản lương hưu béo bở, sống an nhàn xa hoa, đó mới là mục tiêu thật sự của ông ta.”

Ngày trước, khả năng bày tỏ sự bất đồng bị kìm hãm bởi nỗi sợ tự phơi mình ra trước sự trả đũa của người mà ta phản đối. Nếu gọi ai đó là “một kẻ trộm cắp, dối trá, vô giá trị”, ta có thể bị cộng đồng lên án, thậm chí còn bị thách đấu tay đôi. Ngày nay, người ta có thể buông ra những câu như thế trên mạng xã hội với cái giá bằng không và trong sự ẩn danh hoàn toàn.

Thêm vào đó, còn tồn tại một cảm giác rằng việc bị xúc phạm bằng lời nói trên mạng không phải là vấn đề gì quá lớn. Người ta bảo rằng đừng quá nhạy cảm, rằng nên học cách chịu đựng những lời cay nghiệt của người khác. Trong khi xã hội rất cảnh giác với một số hình thức phân biệt chủng tộc hay kỳ thị giới, thì lại đáng ngạc nhiên là vẫn khá thản nhiên trước những dạng lăng mạ “thông thường” đang được trao đổi trên mạng xã hội từng phút một.

Chúng ta, với tư cách là một xã hội, không thực sự coi trọng việc “bị xúc phạm” và vì thế, sự xúc phạm lan tràn khắp nơi.

Công nghệ cũng tạo ra những quan điểm mạnh mẽ hơn; nó tiếp thêm sự liều lĩnh cho những người mà trước đây còn dè dặt vì không chắc có ai đồng ý với mình hay không, bằng cách đưa họ đến với những người cùng chí hướng và củng cố niềm tin của họ. Một người chỉ thoáng nghĩ, hơi ngượng ngùng, rằng Pluto nên được xếp lại là một hành tinh, giờ đây có thể tham gia vào vô số trang web đầy những người chẳng nghĩ gì khác ngoài chuyện ấy. Điều này cũng đúng với chính trị, khiêu dâm, tôn giáo… Nếu bạn vừa là người theo chủ nghĩa Marx vừa là một tín đồ Cơ Đốc giáo cực đoan, bạn hoàn toàn có thể sống trong một góc của thế giới mạng, nơi điều đó được xem như cách nhìn duy nhất thông minh về thế giới.

Vì thế, nhờ công nghệ, chúng ta vừa phơi mình trước những bất đồng không kiềm chế của người khác – vừa được vỗ về bởi sự khích lệ đầy tự tin từ những “bộ lạc” cùng niềm tin. Nói ngắn gọn, công nghệ làm xã hội phân cực và thổi bùng căng thẳng.

Dẫu vậy, thay vì tuyệt vọng, chúng ta cần chấp nhận rằng bất đồng sẽ luôn hiện diện, ở khắp mọi nơi. Ta có thể mơ mộng về sự hòa hợp phổ quát, về lý trí tự nhiên chiến thắng, về một thế giới nơi ai cũng dịu dàng và bao dung. Nhưng những bất đồng dữ dội sẽ không tự nhiên biến mất.

Vì thế, chúng ta cần học cách bất đồng cho đúng mực, học cách đi qua một đời sống mà ở đó, ta không tránh khỏi va chạm với nhiều người về kỳ vọng, đòi hỏi, hy vọng, niềm tin, ưu tiên và thái độ. Ta cần đối diện và xử lý bất đồng một cách khéo léo, để có thể sống ổn hơn trong chính cuộc đời mình, và đóng góp dù nhỏ bé đến đâu, cho một xã hội tỉnh táo và lành mạnh hơn.

NHỮNG BƯỚC ĐI HỮU ÍCH

ĐỪNG VỘI VÀNG LƯỚT QUA BẤT ĐỒNG

Bất đồng thường trở nên gay gắt hơn bởi sự từ chối dành cho nó đủ thời gian cần thiết để được gỡ rối một cách tử tế, chỉ vì ta ngầm cho rằng bản thân những bất đồng ấy vốn không hề phức tạp.

Ta nghĩ rằng có những điều lẽ ra phải “dễ dàng” đạt được sự đồng thuận – ai nên lãnh đạo đất nước, phải làm gì với vấn đề ô nhiễm, hay đơn giản là sắp xếp phòng ngủ ra sao.

Chính ý niệm thiếu cơ sở rằng một điều gì đó là “lẽ thường tình” đã trở thành thứ nhiên liệu làm bùng lên biết bao bất đồng.

Ta nên lấy cảm hứng từ sự kiên nhẫn của Socrates, nhà triết học vĩ đại đầu tiên, người đã chậm rãi tháo gỡ những nút thắt trong tư duy của các công dân Athens cổ đại. Có khi phải mất cả một giờ đồng hồ chỉ để đi qua những quan niệm của ai đó về công lý, về điều thiện, hay về tình yêu.

Giả định tai hại rằng mọi thứ đều hiển nhiên đặc biệt gây khốn đốn cho đời sống gia đình. Ở đó, các cặp đôi không chỉ thường xuyên bất đồng, mà còn cảm thấy những bất đồng ấy nhỏ nhặt và đáng lẽ phải được giải quyết thật nhanh. Thật ngớ ngẩn khi dành cả tiếng đồng hồ cãi nhau về nhiệt độ phòng ngủ. Thật vô lý khi lại bất đồng (một lần nữa) về thời điểm tốt nhất để gọi taxi.

Chúng ta đang vận hành với một hình dung không mấy lành mạnh về sự nghiêm trọng. Có một kiểu tâm trạng tồi tệ xuất hiện khi điều ta tưởng là dễ dàng hóa ra lại không hề dễ. Ta vừa giận dữ một cách nghiêm túc, lại vừa không thể coi cơn giận của mình là đáng được nghiêm túc. Bị đẩy vào thế giằng co, điều tiếp theo thường là càm ràm và né tránh. Càm ràm: đó là những nỗ lực lặp đi lặp lại, thiếu cảm thông và thiếu hiểu biết tâm lý, nhằm ép người kia phải thuận theo, mà không hề cố gắng hiểu vị trí của họ (điều mà ta có thể đã làm nếu chấp nhận rằng vấn đề này thực sự khó). Càm ràm ngầm cho rằng người bạn đời chỉ bất đồng vì bướng bỉnh, và vì thế, chọc ngoáy, thúc ép trở thành con đường duy nhất. Và né tránh: đó là sự từ chối u sầu trước những cú chọc ấy, kèm theo một sự miễn cưỡng âm thầm, tuyệt vọng, trong việc đưa ra bất kỳ lý lẽ thuyết phục nào cho sự phản kháng của mình.

Cả hai bên đều mong rằng vấn đề, vốn quá chán ngán với cả hai, sẽ tự nhiên biến mất. Thế nhưng, trong thực tế, không hề tồn tại những vấn đề “nhỏ nhặt”. Những triết lý sống đang âm thầm khuấy động và va chạm bên dưới bề mặt của những cuộc cãi vã tưởng chừng vụn vặt. Những khó chịu chỉ là biểu hiện bên ngoài của các cuộc tranh luận bị dồn nén về những cách hiểu khác nhau về sự tồn tại.

Nếu đã bất đồng và chắc chắn là ta sẽ bất đồng, thì ít nhất, ta cũng nên dành cho những bất đồng ấy sự tôn trọng bằng cách đầu tư thật nhiều thời gian cho chúng.

BẤT ĐỒNG LÀ ĐIỀU BÌNH THƯỜNG

Nói tiếp một chút về điều đặc biệt liên quan đến các mối quan hệ: ta rất dễ cảm thấy xấu hổ trước số lượng bất đồng tồn tại trong một mối quan hệ “bình thường”.

Ta nghĩ điều đó thật kỳ lạ, nhưng thực ra không phải vậy. Chỉ là ý niệm của ta về cái gọi là bình thường đã bị lệch quá nhiều về phía hòa hợp. Vì thế, sẽ vô cùng hữu ích nếu ta được nhìn thấy nhiều hơn những bằng chứng về việc các cặp đôi bất đồng với nhau. Thông thường, ta chỉ thấy các mối quan hệ của người khác từ bên ngoài: thấy họ thong thả dạo quanh chợ mua táo, hay đùa vui trong một bữa tiệc rượu. Ta hầu như không bao giờ được chứng kiến những khoảnh khắc khó khăn của họ khi ở bên nhau, những gì diễn ra lúc họ thật sự buồn bực, cách họ khiến nhau bực bội đến tận cùng: cách họ làm nhau phát điên. Bao nhiêu điều họ bất đồng, với bao nhiêu đam mê và cường độ, và cả những kết cục vừa bi vừa hài đến thế nào.

Ngược lại hoàn toàn, ta lại biết mối quan hệ của chính mình từ bên trong. Sự khác biệt giữa hai góc nhìn ấy tạo ra một sự méo mó đầy tổn hại. Cảm nhận của ta về một mối quan hệ “đủ tốt” bị thiên lệch một cách bất công. Ta cần tự giúp mình bằng cách tiếp cận một bức tranh chính xác hơn, đầy đủ thông tin hơn về những mối quan hệ bình thường. Dẫu có bao nhiêu sách vở và phim ảnh đi nữa, nghệ thuật vẫn thường làm ta thất vọng khi không soi chiếu đủ rõ những vụng về rất đời thường của chúng ta.

Mức độ xung đột khá cao, sự nhỏ nhen, dại dột và thất vọng là điều phổ biến. Chúng là một phần không thể tách rời của những mối quan hệ đủ tốt. Một mối quan hệ tốt không phải là nơi hai người hòa thuận với nhau hầu hết thời gian. Đó là nơi họ đã học được cách chấp nhận rằng những khó khăn và bức bối đau đớn là điều bình thường.

Việc nhận thức này vẫn chưa được lan tỏa rộng rãi giải thích cho tỷ lệ ly hôn cao kéo dài. Ta không chỉ bất hạnh, mà còn, một cách tai hại, tin rằng nỗi bất hạnh ấy là điều bất thường, là dấu hiệu của một sai lầm: và vì thế, ta tìm cách trốn chạy những rắc rối mà ta cho là “không cần thiết” bằng cách rời bỏ mối quan hệ này để bắt đầu một mối quan hệ khác. Và rồi lại kết thúc với một tập hợp nỗi buồn khác.

ĐỪNG MANG NĂNG LƯỢNG TỪ NƠI KHÁC ĐỔ VÀO NHỮNG BẤT ĐỒNG CỦA BẠN

Nhiều bất đồng của chúng ta, xét cho cùng, xoay quanh những vấn đề mang tính trí tuệ: tương lai của đồng euro, nhập cư, nợ công, kiểm duyệt, chính sách giáo dục…

Có lúc bạn thấy mình đứng ra bảo vệ đầy say sưa nền kinh tế Peru, tầm quan trọng của George Orwell, câu hỏi liệu người Trung Hoa có đặt chân đến châu Mỹ từ thế kỷ 15 hay không, hay địa vị của phụ nữ ở nước Pháp thế kỷ 18… (Danh sách của mỗi người đều khác nhau). Những chủ đề này không hề tầm thường, nhưng cường độ cảm xúc mà ta dồn vào chúng đôi khi lại quá mức so với điều thực sự đang bị đe dọa.

Trong những khoảnh khắc bình tâm hơn, bạn có thể tự hỏi vì sao mình lại dễ nổi nóng đến vậy trước những chuyện ấy.

Chính ở đây, ta chạm tới hiện tượng Năng Lượng Được Nhập Từ Nơi Khác: trong trạng thái này, “nhiên liệu” cho một cuộc tranh cãi không hoàn toàn bắt nguồn từ chính đề tài đang bàn luận. Sự gay gắt đến từ những điều đang diễn ra ở những góc khác trong đời sống của bạn. Vào lúc đó, ta thường không nhận ra điều này, và vì thế, việc xoa dịu một cuộc bất đồng trở nên vô cùng khó khăn.

Năng lượng có thể được “nhập” vào theo ít nhất năm cách khác nhau:

Một: Cơn giận bị chuyển hướng và dồn nén

Bạn đang giận điều gì đó, hay ai đó, nhưng vì một lý do nào đó, cơn giận ấy không tìm được lối thoát phù hợp.

Có thể là một người cấp trên ở nơi làm việc (người mà bạn không thể bày tỏ sự bực bội của mình).

Một người bạn đã làm bạn thất vọng, nhưng bạn lại không muốn họ thấy bạn bị tổn thương đến mức nào.

Những bức bối đa cực: tàu đến trễ, đôi giày làm bạn đau chân, bạn mệt mỏi rã rời – nhưng chẳng có ai cụ thể để trách móc.

Cơn giận vốn thuộc về những chỗ khác ấy được mang theo vào cuộc tranh cãi. Nó được trút lên một người “tiện tay” (nhưng thực ra lại hoàn toàn không thích hợp).

Hai: Ta đang tranh cãi với quá khứ

Đôi khi, ta không thực sự bất đồng với người đang ở trước mặt mình, mà với những người đã khuất hoặc đã rời xa. Cuộc tranh cãi hiện tại chỉ là vật thay thế cho một vấn đề còn dang dở trong quá khứ.

Bạn chưa bao giờ khiến cha mình nhìn thấy giá trị trong lựa chọn nghề nghiệp của bạn, nên bạn cố thuyết phục ông bằng cách nổi nóng với người ngồi cạnh trong bữa tối.

Ngày còn học đại học, có một người quen với quan điểm chính trị khiến bạn khó chịu; và từ đó, bạn luôn tìm cách chứng minh họ sai bằng việc giảng giải cho những người xa lạ trong các buổi tiệc rượu.

Người yêu cũ từng liên tục trách bạn là ích kỷ; giờ đây, bạn cố “thắng” họ bằng cách chế giễu những “trái tim mềm yếu” với bất kỳ ai chịu lắng nghe.

Ba: Khao khát tình dục bị dồn nén được chuyển hướng thành bất đồng

Có một người bạn bị thu hút (dù có thể bạn ngại thừa nhận điều đó); bạn thấy họ hấp dẫn, đầy kích thích, nhưng họ dường như chẳng mấy quan tâm đến bạn. Bất đồng trở thành một cách để chạm tới họ; bạn phản bác, buộc họ phải thừa nhận tầm quan trọng của một chi tiết nào đó; bạn khá mạnh tay khi cố gắng lung lay một trong những niềm tin yêu thích của họ. Năng lượng ấy không chỉ đến từ chủ đề bề mặt, nó được vay mượn từ một khao khát bị cản trở.

Bốn: Ta cố bù đắp cho cảm giác bị hạ thấp

Trong một thế giới đầy chênh lệch, có những người sở hữu nhiều hơn ta: nhiều tiền hơn, địa vị cao hơn, ngoại hình nổi bật hơn hay nền giáo dục tốt hơn. Và ta rất dễ cảm thấy mình nhỏ bé, ngay cả khi đối phương hoàn toàn không có ý đó. Nỗi sợ bị làm cho xấu hổ, bị hạ nhục, khi bị dồn nén, có thể chuyển hóa thành sự hung hăng trong tranh luận. Tranh cãi trở thành một lựa chọn thay thế cho cuộc đối đầu mà ta không được phép hoặc không dám thực hiện.

Năm: Ta khao khát sự rõ ràng trong một thế giới mơ hồ

Thường thì, chúng ta buộc phải sống chung với vô vàn bất định và nhập nhằng. Trong phần lớn các trường hợp, ta đơn giản là không biết đâu mới là câu trả lời đúng.

Một dự án lớn ở nơi làm việc có thể thành công, cũng có thể thất bại; bạn phải đối mặt với những vấn đề không hề có đúng hay sai rõ ràng – bởi chưa ai biết chắc; nên ở lại hay rời bỏ một mối quan hệ, việc cân nhắc được mất có thể khiến người ta đau đớn đến kiệt sức; hay làm sao để ứng xử với một người bạn đang trở nên khó chịu, dù bạn vẫn rất quý mến họ.

Trong sâu thẳm, ta có một khát khao mãnh liệt được nắm lấy những điều đơn giản và rõ ràng – và không ít lần, những chủ đề khiến ta tranh cãi gay gắt lại mang đến cơ hội hoàn hảo cho điều đó. Bạn tìm thấy một người “hoàn toàn sai” (về đồng euro hay nhập cư). Bạn cảm thấy mình “hoàn toàn đúng”. Sự dứt khoát ấy có thể chẳng thật sự có cơ sở, nhưng bạn cần có một điều gì đó để mình được đúng tuyệt đối, khi mà ở những lĩnh vực khác, bạn luôn bất an vì không biết đâu mới là đúng.

Bạn càng ý thức được khả năng này, bạn càng dễ nhận ra nó đang diễn ra, trong chính cuộc sống của mình và trong cách hành xử của người khác.

Việc đưa năng lượng trở về đúng chỗ là một nhiệm vụ lớn của sự trưởng thành. Ta cần trả lại cảm xúc về nơi mà chúng thực sự thuộc về.

Ý niệm rằng năng lượng có thể được “nhập” vào một cuộc bất đồng từ những nguồn khác giúp ta làm được vài điều quan trọng:

Nhận ra khi người khác đang vật lộn với một vấn đề thực ra không nằm trên “trang giấy” của cuộc tranh luận. Nhờ đó, ta có thể bao dung hơn với họ. Sự cay độc hay nóng nảy bề ngoài của họ bớt khiến ta xáo trộn. Ta hiểu rằng rốt cuộc, mọi thứ đang xoay quanh một điều gì đó khác, và điều ấy là rất, rất bình thường.

Sẵn sàng xin lỗi và tự kiềm chế bản thân hơn. Hãy tự hỏi: mình có đang mang năng lượng từ nơi khác vào đây không?Bởi bạn hiểu rằng dù không hề cố ý, đôi khi bạn đang bị quấy nhiễu bởi một chuyện hoàn toàn khác với đề tài đang tranh cãi.

Phá vỡ thế bế tắc. Những bất đồng tưởng chừng không nhúc nhích có thể được hóa giải nếu ta biết đưa năng lượng của cả hai bên trở về đúng chỗ. Anh nói: tôi muốn phòng ngủ ở 22 độ C. Cô nói: tôi muốn 18 độ. Giải pháp không nằm ở con số, mà ở chỗ khác: nó gợi ý rằng việc người ta trở nên cứng nhắc, cố thủ trong lập trường của mình, có thể bắt nguồn từ những nguyên nhân khác. Chẳng hạn: anh khó nhượng bộ ở chuyện này vì anh đã phải chấp nhận quá nhiều thỏa hiệp ở nơi làm việc. Và cô quyết tâm thắng lần này vì từ nhỏ, cô luôn cảm thấy chị gái mình mới là người có quyền quyết định mọi thứ.

Nói rằng một cuộc tranh cãi được tiếp nhiên liệu bởi năng lượng “nhập từ nơi khác” đôi khi nghe có vẻ trịch thượng.

Có nguy cơ ta sẽ phân tích nguồn gốc của những quan điểm mạnh mẽ của người khác theo cách khiến họ càng thêm nổi giận.

Họ sẽ kịch liệt phủ nhận rằng chuyện ấy có liên quan gì đến mẹ họ hay hoàn cảnh ở nơi làm việc, họ sẽ khăng khăng rằng mình đang bảo vệ một “lý tưởng cao cả” nào đó (chính trị toàn cầu, chẳng hạn).

Sự xúc phạm ấy là không có cơ sở: chẳng có gì vốn dĩ “cao” hơn ở những đam mê bắt nguồn từ các vấn đề trí tuệ, hay “thấp” hơn ở những đam mê nảy sinh từ câu chuyện đời riêng.

Dẫu vậy, không phải lúc nào cũng khôn ngoan khi nói cho người khác biết bạn nghĩ gì. Chẩn đoán của bạn không nhất thiết phải được chia sẻ. Nhưng chỉ cần giữ nó trong tâm trí thôi cũng đủ giúp bạn tránh khỏi những đối đầu vô ích.

CHẤN THƯƠNG: SOI CHIẾU TIỂU SỬ CỦA NHỮNG Ý NIỆM

Từ chấn thương nghe có vẻ kịch tính, nhưng kỳ thực, mỗi chúng ta đều mang trong mình những trải nghiệm xáo trộn sâu sắc, những mối đe dọa gắn với một số điều nhất định. Và chính những chấn thương ấy thường âm thầm, mạnh mẽ chi phối cách chúng ta suy nghĩ hôm nay, dù phần lớn thời gian, ta không hề nhận ra.

Văn hóa của chúng ta đang bị cuốn vào cơn mê của những bất đồng “khách quan”. Ta thích tin rằng mình đang bàn luận sự thật, sàng lọc bằng chứng, dựng xây lập luận lý trí. Nhưng khi cuộc tranh luận thuần túy về ý tưởng rơi vào bế tắc, khi bất đồng trở nên gay gắt mà vô ích, thì đôi khi, điều hữu ích hơn là quay lại bàn về nguồn gốc của những ý niệm trong chính đời sống của mỗi người. Lý tưởng nhất là đưa cuộc trò chuyện rời xa việc người ấy đang nghĩ gì, để cùng khám phá vì sao họ lại mang trong mình những quan điểm ấy.

Nghiên cứu tình huống thứ nhất

Hãy nghĩ đến một người cực kỳ chống đối tư tưởng bảo thủ: bất cứ điều gì có vẻ ủng hộ hiện trạng, hay tỏ ra có lợi cho giới kinh doanh, đều vấp phải sự thù ghét dữ dội. Tranh luận theo hướng ngược lại, rằng không phải mọi thứ đang tồn tại đều tồi tệ, rằng kinh doanh là một hoạt động lớn của con người, hoàn toàn không mang lại kết quả. Mọi gợi ý bạn đưa ra đều bị bác bỏ.

Nhưng nếu lần ngược về bối cảnh sống và những trải nghiệm ban đầu của họ, ta có thể phát hiện rằng sự nghiệp của người cha từng rơi vào khủng hoảng trong giai đoạn một chính phủ Bảo thủ đang cầm quyền. Đó là quãng thời gian khủng khiếp đối với cả gia đình. Cha mẹ họ sống trong lo âu; người cha cảm thấy nhục nhã. Những chính sách của chính phủ có liên quan trực tiếp; việc cắt giảm chi tiêu công là yếu tố then chốt khiến ông mất việc. Vậy nên, cảm xúc và quan điểm mà người ấy mang theo là điều hoàn toàn dễ hiểu. 

Nghiên cứu tình huống thứ hai

Bạn gặp một người kịch liệt phản đối kiến trúc hiện đại dưới mọi hình thức và khăng khăng rằng kiến trúc cổ điển mới là kiểu kiến trúc tốt đẹp duy nhất. Khi nói về chủ đề này, họ nghe có vẻ hơi cực đoan, thậm chí khó hiểu. Thay vì cố thuyết phục họ rằng vẫn có không ít công trình hiện đại xuất sắc, có lẽ bạn nên hỏi về những trải nghiệm đầu đời của họ với kiến trúc.

Hóa ra, vào quãng tuổi thiếu niên, khi cuộc sống đối với họ mang cảm giác hỗn loạn và mong manh, họ bị thu hút bởi những tòa nhà toát lên sự điềm tĩnh, lặng lẽ và trang nghiêm, và tất cả đều mang phong cách cổ điển. Có một góc thành phố nơi họ từng sống mà họ yêu mến chính vì cảm giác ấy. Rồi một ngày, một công trình hiện đại đầy phô trương và áp đặt mọc lên ngay tại đó (gần như trùng với thời điểm cha mẹ họ ly hôn). Điều ấy được cảm nhận như một sự tấn công cá nhân, như thể một nơi trú ẩn tưởng tượng vừa bị phá hủy.

Ý niệm mà mỗi người trong hai trường hợp này ghét bỏ (chủ nghĩa bảo thủ, kiến trúc hiện đại) thực chất đại diện cho một nỗi sợ. Và những lập trường họ theo đuổi (chủ nghĩa xã hội, kiến trúc cổ điển) đối với họ lại là một lời giải, dù chỉ tồn tại trong tưởng tượng.

Điều này rất điển hình cho nhiều chủ đề mà chúng ta bất đồng với nhau.

Một khi chấp nhận điều đó, có thể chúng ta vẫn không đồng quan điểm về kinh tế hay kiến trúc. Nhưng người đối lập với ta sẽ không còn chỉ hiện lên như kẻ bướng bỉnh, hẹp hòi: họ có một nỗi sợ, và họ đã tìm đến một lời giải tưởng tượng, và chúng ta cần nhận thức được cả hai chuyển động ấy.

Khi hiểu được lịch sử mà một ý niệm hay một lập trường chiếm giữ trong tâm trí ai đó, ta sẽ dễ dàng nhận ra những liên tưởng ngẫu nhiên, kém may mắn mà nó đã vô tình tích tụ trong tiểu sử đời họ, những liên tưởng vốn không thuộc về bản chất của ý niệm ấy. Kiến trúc hiện đại, thực ra, không phải là một cuộc tấn công vào sự an lành của người này. Và chủ nghĩa bảo thủ, nhìn chung, cũng không đồng nghĩa với việc cha mẹ ai đó sẽ mất việc.

NHỮNG LẦN “LÀM QUEN” KHÔNG MAY VỚI CÁC Ý NIỆM

Một lý do khác khiến chúng ta khó đi đến đồng thuận là bởi rất thường xuyên, ta tiếp xúc với các ý niệm thông qua con người. Điều này khiến một số khuynh hướng tư tưởng bị nhuốm màu một cách không tự nhiên, tùy thuộc vào việc ai là người đã giới thiệu ý niệm ấy cho ta. Những “hào quang” tiêu cực ấy rồi đây trở nên vô cùng, vô cùng khó gột rửa bằng những cách trò chuyện thông thường.

Có khi, một dòng tư tưởng quan trọng đã đến với ta qua những con người tiêu cực hoặc đáng sợ; hoặc ngược lại, nó được “tô đậm” quá mức vì được cổ vũ bởi một người ta yêu mến và tin cậy, đến nỗi ta cảm thấy mình phải trung thành với họ, trung thành đến mức không cho phép bản thân bất kỳ sự bất đồng nào, hay một bước rời xa hệ tư tưởng ban đầu của họ.

Các nghiên cứu tình huống:

Một người bác rất duyên dáng, nay đã qua đời, từng cực kỳ chỉ trích các công đoàn và thường châm biếm rất hóm hỉnh về những khiếm khuyết của họ. Kể từ đó, bạn chưa bao giờ có thể thực sự nghiêm túc nhìn nhận các công đoàn lao động, và bản năng luôn dè chừng họ.

Một cô giáo dạy mỹ thuật đáng mến vô cùng ngưỡng mộ Andy Warhol, người mà trong mắt cô là nghệ sĩ tiêu biểu nhất của thế kỷ 20. Giờ đây, bất kỳ hoài nghi nào về thiên tài của ông cũng khiến bạn thấy quê mùa, xúc phạm, và như một sự phản bội đối với một người bạn già hiền hậu.

Thời đại học, bạn quen một người vụng về, vô cùng nhút nhát, lại là một tín đồ Công giáo sùng đạo. Không hẳn bạn nhận ra điều đó, nhưng hình ảnh ấy đã dần trở thành khuôn mẫu của bạn về niềm tin tôn giáo.

Cũng ở đại học, bạn quen một người vụng về, vô cùng nhút nhát, say mê thiên văn học. Không hẳn bạn nhận ra điều đó, nhưng hình ảnh ấy đã dần trở thành khuôn mẫu của bạn về giới khoa học.

Khi tự rà soát lại lịch sử tâm lý – trí tuệ của chính mình, ta sẽ nhận ra những ý niệm của ta đang mang một món nợ lớn với những ngẫu nhiên của trải nghiệm cá nhân. Thứ mà ta phản ứng không hẳn là bản thân vấn đề; ta đang nhìn nó qua một tấm kính méo mó. Ta đã trộn lẫn khái niệm với con người. Đời sống trí tuệ của ta vì thế đứng trước nguy cơ bị “bắt làm con tin” bởi những liên tưởng tình cờ này, những liên tưởng chẳng hề công bằng với bản chất của vấn đề.

Bài tập:

Hãy liệt kê những cách mà một chấn thương sớm, hoặc một liên hệ cá nhân nào đó, có thể đã ảnh hưởng đến các niềm tin của bạn.

Sau đó, hãy cho phép khái niệm ấy dần tách ra khỏi những con người đã từng là cầu nối đầu tiên đưa nó đến với bạn.

Hãy thử hình dung người tử tế nhất có thể mang quan điểm ấy, và họ nghĩ như vậy bằng cách nào, vì sao.

Nếu bạn chống đối công đoàn, hãy tưởng tượng một người duyên dáng, văn minh, hết lòng ủng hộ họ.

Nếu bạn phản đối chủ nghĩa bảo thủ, hãy hình dung lập luận ấy được trình bày bởi một người hiền hòa và tinh tế.

Nếu bạn tuyệt vọng với kiến trúc hiện đại, hãy nghĩ đến cách nó có thể được bênh vực bởi một con người nghiêm cẩn, dịu dàng và nhạy cảm.

Không nhất thiết là cuối cùng ta sẽ thay đổi niềm tin của mình. Điều thay đổi là bức tranh trong tâm trí ta về sự bất đồng. Việc nhận ra rằng một quan điểm khác có thể được nắm giữ bởi một con người đáng kính và sáng suốt không buộc bạn phải từ bỏ niềm tin của mình. Nhưng nó giúp bạn bước vào cuộc đối thoại một cách phong phú hơn, thú vị hơn, và sinh lợi hơn cho tâm trí.

BUÔNG BỎ KHOÁI CẢM CỦA SỰ TỰ CHO MÌNH ĐÚNG

Về mặt lý thuyết, con người không được sinh ra để yêu thích những bất đồng gay gắt – những tình huống mà ta tự nhủ rằng người kia sai hoàn toàn, sai đến tận gốc rễ trong quan điểm của họ.
Nhưng có một sự thật u tối: thay vì cảm thấy khó chịu, đôi khi ta lại… thích điều đó vô cùng.

Điều này xảy ra khá thường xuyên trong chính trị: ta tin rằng những người ở “phe bên kia” là những con người tồi tệ – không chỉ đơn thuần là nhầm lẫn, mà còn độc ác, ích kỷ, thiển cận, ngu ngốc và nguy hiểm. Họ quả thực là những kẻ xấu. Gác lại chuyện ai đúng ai sai trong các vấn đề như liệu Catalonia có tốt hơn nếu tách khỏi Tây Ban Nha, việc hội nhập châu Âu là lợi hay hại với nước Anh, bản chất và mức độ cấp bách của biến đổi khí hậu, hay vị thế của niềm tin tôn giáo, thì đây đều là những chủ đề khiến không ít người rơi vào trạng thái ghét bỏ và khinh miệt những ai đứng ở phía đối lập.

Vì sao điều này lại có sức cám dỗ đến vậy?

Lý do thứ nhất: ta được đối diện một cách đầy trấn an với chính những niềm tin của mình. Ta có một cảm giác mạnh mẽ rằng mình đang đúng (một cảm giác dễ chịu hơn rất nhiều so với việc thừa nhận mọi thứ đều mơ hồ và rối rắm). Nó là liều thuốc giải cho nỗi u uất và sự nhập nhằng. Nếu “kẻ thù” là xấu xa, hẳn ta phải là người tốt.

Lý do thứ hai: sự bất đồng (nơi ta cảm thấy mình chính nghĩa và phẫn nộ) mang lại một mục tiêu cụ thể, gọn gàng, ở ngay trước mắt, cho những thất vọng vốn dĩ lan rộng và khó gọi tên. Thay vì cảm thấy bất mãn mơ hồ với cuộc sống và với chính mình, giờ đây ta có một lời giải thích rõ ràng: con người khủng khiếp này, hay những con người khủng khiếp kia.

Dẫu sự tự cho mình đúng có thể mang lại khoái cảm, hệ quả của nó lại vô cùng u ám, bởi nó đồng nghĩa với việc ta từ bỏ khả năng thực tế của việc thay đổi suy nghĩ của người khác, hoặc để chính mình được thay đổi. Ta khước từ việc học hỏi, cũng như khước từ việc dạy dỗ.

Để thoát khỏi vị thế tự cho mình đúng, ta cần thực hiện một thao tác không mấy quen thuộc. Ta cần nhớ lại cảm giác của mình khi chưa có niềm tin hiện tại. Ta cần tưởng tượng xem sẽ ra sao nếu không đồng ý với chính mình. Ta cần học cách đồng cảm với một người không hề thấy điều mà ta cho là “hiển nhiên” lại rõ ràng chút nào.

Sự thuyết phục thành công luôn dựa trên ký ức về việc đã từng không đồng ý với lập trường hiện tại của bản thân.

Một bài tập cơ bản có thể diễn ra như sau: hãy chọn một chủ đề mà bạn dễ cảm thấy mình đúng tuyệt đối (chẳng hạn môi trường, thuế khóa, luật về ma túy, khiêu dâm…). Rồi hãy tranh luận chống lại chính mình theo cách thông minh nhất, tinh tế nhất và cảm thông nhất mà bạn có thể làm được.

Những bất đồng thường đi kèm với việc dán nhãn người mà ta đang xung đột: “phát xít”, đồ ngu, kẻ cố chấp, người sạch sẽ thái quá, kẻ ích kỷ. Những cái tên ấy cắt đứt ta khỏi việc hiểu xem điều gì thực sự đang diễn ra trong đầu người kia.

Nếu ta muốn đối diện với bất đồng một cách tốt đẹp hơn (ít bị đe dọa hơn, cảm thấy nhẹ nhõm hơn, và có nhiều cơ hội đi đến đồng thuận hơn), ta cần xây dựng một hình dung nhân ái hơn về người ở phía đối diện.

VAI TRÒ CỦA NGHỆ THUẬT TRONG VIỆC HÓA GIẢI BẤT ĐỒNG

Một cách để làm dịu bớt những bất đồng là khiến con người đọc nhiều tiểu thuyết hơn, và xem nhiều hơn những bộ phim thuộc một số thể loại nhất định.

Những câu chuyện mà ta cần là những câu chuyện giải thích vì sao một con người thoạt nhìn có vẻ hoàn toàn không xứng đáng với sự tôn trọng hay thấu hiểu của ta, kỳ thực lại là người rất đáng được cảm thông và đồng cảm.

Charles Dickens đã làm điều này một cách vô cùng xuất sắc. Chẳng hạn, trong David Copperfield, ông cho những người đồng thời thời Victoria thấy rằng một kẻ móc túi từng bị kết án không hẳn là một sinh vật xa lạ nào đó; mà có vô vàn con đường rất đời, rất đáng sợ, có thể dẫn một con người tới hoàn cảnh ấy.

Xuyên suốt cuốn tiểu thuyết, ta dần nhận ra rằng David Copperfield không phải là một kẻ khốn khổ và đáng khinh như phần lớn tầng lớp trung lưu thời Victoria hẳn sẽ mặc nhiên nghĩ nếu bắt gặp anh ngoài phố. Người đọc được hiểu vì sao một con người tử tế – có thể là chính bạn – lại có thể rơi vào hoàn cảnh như thế.

Ta hoàn toàn có thể vận dụng cách tiếp cận này đối với những niềm tin mà ta (có khi là rất dữ dội) không đồng ý.

Ta cần đặt ra “câu hỏi Copperfield”: làm sao một người tốt lại có thể đi đến chỗ này?

Đôi khi ta thấy e dè với bước đi ấy, bởi nó dễ khiến ta cảm giác như mình đang ngầm dung túng cho niềm tin kia. Nếu tôi hiểu được vì sao một người tử tế, đàng hoàng lại có thể trở thành một kẻ Quốc xã hay một người ngưỡng mộ Stalin, chẳng phải tôi đang tiến gần đến việc nói rằng điều đó là chấp nhận được sao?

Sự thật là không phải vậy. Trái lại, lúc này bạn đang ở vị thế tốt hơn rất nhiều để thấy được làm sao giúp họ rời xa những niềm tin ấy. Bạn có cơ hội lớn hơn để dạy họ, bởi bạn hiểu rõ mình cần làm gì, và hiểu họ được thúc đẩy bởi điều gì.

Đáng tiếc là truyền thông thường không giúp ích, bởi phần lớn thời gian nó làm điều ngược lại với những gì tiểu thuyết hay phim ảnh tốt đẹp làm. Nó tạo ra những bức biếm họa.

Truyền thông cung cấp những hình ảnh ghép, những khuôn mẫu về các kiểu nhân vật như người nhập cư mới, chính trị gia, giám đốc điều hành… Và ta dùng những lối tắt ấy để dò dẫm trong một thế giới phức tạp. Nhưng đó thường không phải là những chân dung tử tế.

Dẫu vậy, truyền thông hoàn toàn có thể trở nên tuyệt vời, và làm điều mà Dickens từng làm với những kẻ móc túi: đó là trả lại tính người cho những con người mà ban đầu ta không sao cảm thông nổi.

HIỂU VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHỆ TRONG VIỆC TẠO RA “KẺ THÙ”

Một trong những cách lớn nhất mà công nghệ khiến ta khó hiểu “kẻ thù” của mình hơn (và vì thế khiến việc đối diện với bất đồng trở nên khó khăn) là nó cho phép mức độ ẩn danh rất cao.

Con người trở nên cay nghiệt trên mạng vì ba lý do cơ bản.

Thứ nhất: nỗi sợ không được lắng nghe

Nỗi sợ ấy thúc đẩy việc tăng âm lượng: nói gắt gỏng, sắc cạnh, cộc lốc, thô lỗ… Tất cả những điều này đều là những cách khuếch đại, nhằm cố đưa thông điệp đi xa hơn, dù khoảng cách thực ra không hề lớn như họ tưởng. Và sự thật là, người ở phía bên kia rất dễ bị tổn thương. Từ góc nhìn của kẻ công kích, một lời xúc phạm có thể chỉ tương đương về mặt tâm lý với việc nói to tiếng. Nhưng với người hứng chịu, nó có thể gây ra nỗi đau sâu sắc, thậm chí là sự sụp đổ tinh thần.

Thứ hai: cảm giác mình vô danh

Ta thấy mình không bị ai quan sát, và vì thế được “giải phóng” khỏi những ràng buộc vốn xuất hiện khi ta ý thức rằng bạn bè, người quen, hay thậm chí là người xa lạ, đang nhìn xem ta làm gì.

Thứ ba: ở đầu dây bên kia không phải là một con người

Trong tâm trí ta, người mà ta đang bất đồng dường như không phải là một con người trọn vẹn (cũng như chính ta không được mang toàn bộ con người mình vào cuộc gặp gỡ ấy). Ta sẵn sàng nói ra những điều, bộc lộ những cảm xúc mà ta sẽ không bao giờ làm nếu đang đối diện trực tiếp với ai đó.

Trước đây, những bất đồng dữ dội trong chính trị thường được làm dịu lại bởi một nhân vật then chốt, xuất hiện ở những nơi như London, Paris, New York hay Washington DC: người chủ tiệc.

Những liên tưởng không mấy dễ chịu về giai cấp, tiền bạc và gu thẩm mỹ ngày nay khiến ta khó còn cảm tình với hình ảnh này. Nhưng sẽ khôn ngoan nếu ta nhìn lại vai trò mà người chủ tiệc từng đảm nhận: vào cuối một ngày đầy tranh cãi gay gắt trong kinh doanh hay chính trị, họ mời những đối thủ tụ họp lại trong phòng khách hoặc bên quầy rượu, và giới thiệu họ với nhau như những con người, chứ không chỉ là những hình nhân đại diện cho hệ tư tưởng.

Vai trò của người chủ tiệc là giúp mỗi bên cảm nhận rằng “kẻ thù” cũng là một con người trọn vẹn, với những sở thích và mối quan tâm có thể tương đồng ở những lĩnh vực khác. Họ cũng có thể có con cái, yêu bóng đá, và quan tâm đến nhạc jazz.

Công nghệ đã đẩy chúng ta đến đầu kia của phổ ấy, hoàn toàn đối nghịch với những gì người chủ tiệc từng làm. Khoảng cách và sự phi nhân hóa khiến chúng ta ngày càng trở nên xa lạ và khó hiểu đối với nhau.

TÍNH KHINH BẠC

Một phần lý do khiến ta bất đồng với một số ý tưởng và con người theo cách cứng nhắc và kém xây dựng là bởi, ở nhiều phương diện, ta mang trong mình một sự khinh bạc rất sâu.

Ở đây, khinh bạc được hiểu là khuynh hướng đánh giá con người và ý tưởng dựa trên một vài tiêu chí nhất định, đến mức ta không còn nhìn thấy trọn vẹn sự phức tạp của họ. Người khinh bạc có thể quyết định rằng tất cả những người cánh hữu đều xấu xa, rằng người Romania thì không đáng tin, hay rằng mọi thứ liên quan đến chủ nghĩa hiện sinh đều tuyệt vời (hoặc đều tệ hại).

Ta cần nhận diện những “khối khinh bạc” ấy, nơi một số quan điểm của ta bị đóng kín bên trong.

Nếu Socrates ngày nay âm thầm nộp đơn xin một vị trí giảng dạy đại học, hẳn ông sẽ bị loại. Không bằng tiến sĩ, không công bố học thuật, kinh nghiệm giảng dạy chỉ có ở quảng trường chợ, chưa từng nhận một khoản tài trợ nghiên cứu nào. Hoặc nếu Chúa Giêsu xuất hiện (dưới danh tính khác) tại Vatican, rất có thể Ngài sẽ bị xem là dị giáo. Họ sẽ là những nạn nhân nổi bật của sự khinh bạc.

Khinh bạc là khuynh hướng mạnh mẽ khiến ta tin rằng những điều tốt đẹp, những thứ ta cần, nhất thiết phải đi kèm với một kiểu “bao bì” nào đó.

Ta rất nhạy cảm và hay chỉ trích một vài dạng khinh bạc. Ta lên án kẻ khinh bạc xã hội, người không thể tưởng tượng rằng một ai đó lại có thể đáng mến nếu họ không học ở một trường “đúng chuẩn” hay không có tổ tiên lẫy lừng. Hoặc kẻ vội vàng phủi tay bạn chỉ vì biết mức thu nhập của bạn, nơi bạn sống, hay nhìn thấy bạn lái loại xe gì.

Nhưng khinh bạc phổ biến hơn thế rất nhiều. Tự cốt lõi, khinh bạc là một sai lầm trong tư duy. Ta bất đồng với sự vật theo những khối quá lớn, và bất đồng một cách cứng nhắc.

Khi phân tích khinh bạc theo cách này, ta sẽ thấy nó xuất hiện trong những trường hợp khá bất ngờ. Đó vẫn là cùng một vấn đề, chỉ là ta chưa gọi đúng tên mà thôi.

Ta nói: không ai xuất thân từ Oxbridge mà có thể tử tế.

Hoặc: tất cả những người cánh tả đều là kẻ mộng mơ.

Hoặc: người cánh hữu thì xấu xa…

Những lập trường cố kết như vậy làm nghèo nàn chính chúng ta.

HÀI HƯỚC

Những bất đồng gay gắt thường được nhận diện bởi sự vắng mặt của một phẩm chất vô cùng quan trọng: hài hước.

Hài hước vô cùng cần thiết và hữu ích, bởi điều nó có thể mang lại chính là thứ thường thiếu hụt trong các cuộc tranh cãi đầy cảm xúc: góc nhìn.

Một trò đùa là gì? Nó thường là cách diễn tả lại một tình huống nghiêm trọng từ một góc nhìn chéo, xa hơn, khiến những điều phi lý hay cường điệu tiềm ẩn trong cách nhìn quen thuộc của ta lộ ra. Tiếng cười bật lên chính là dấu hiệu cho thấy ta đã nhận ra mình vừa trượt khỏi sự chừng mực.

Hài hước không hề “ngớ ngẩn” như người ta vẫn nghĩ: nó là tác nhân của sự điều độ.

Xung đột thường bị đẩy lên cao bởi những mô tả mang tính khiêu khích. Hãy thử nghĩ đến kiểu ngôn ngữ như thế này, thứ khơi gợi bất đồng và nuôi dưỡng khát khao trả thù: “Những kẻ vô tín tàn bạo đang giày xéo mảnh đất thiêng liêng của tổ quốc.”

Kiểu diễn ngôn này có một truyền thống rất dài, ta có thể gọi đó là lối hùng biện kích động đám đông, và nó khai thác chính xác khả năng con người đánh mất góc nhìn của mình. Nhưng bất kỳ cách mô tả nào cũng có thể làm thay đổi góc nhìn. Và nếu nó có thể khiến mọi thứ tệ hơn (khiến xung đột trở nên dai dẳng, đáng sợ hơn), thì nó cũng có thể làm điều ngược lại, làm nguội đi sức nóng.

Đó chính là điều mà hài hước (đen) thường làm. Nó phơi bày sự phi lý tiềm ẩn trong những tình huống vốn đã bị đẩy lên mức bạo lực hay căng thẳng một cách không công bằng.

Một cặp vợ chồng đang cãi vã xem nên gọi taxi lúc mấy giờ có thể dịu xuống khi đứa con bước vào, giơ chiếc iPad với hình ảnh “Đồng hồ đếm ngược cái chết” của họ: www.deathclock.com

Hãy thử nhìn Thế chiến thứ nhất qua cách diễn đạt lại này: Vì một số người trong những tòa nhà lớn lo lắng về việc người khác nghĩ gì về mình, và sợ trông có vẻ ngớ ngẩn, nên những tờ giấy được gửi đến rất nhiều người sống trong các tòa nhà nhỏ, yêu cầu họ mặc những bộ quần áo đặc biệt, đi đứng theo một cách nhất định, và chủ yếu là di chuyển đến Pháp. Sau đó, họ phải sống dưới lòng đất trong một khoảng thời gian khá dài. Nếu nhìn thấy ai đội những chiếc mũ có hình dáng đặc biệt, họ phải cố gắng đưa một mẩu kim loại vào dưới da người đó.

Cách nhìn của George Bernard Shaw về lòng yêu nước cũng thực hiện một động tác tương tự: một sự làm xẹp đi, nhưng chính xác, bằng cách diễn đạt lại: “Về bản chất, chủ nghĩa yêu nước là niềm tin rằng một quốc gia cụ thể nào đó là tốt nhất trên thế giới, chỉ vì bạn được sinh ra ở đó…”

Hãy tưởng tượng bạn nhìn thấy một bức ảnh, với dòng chú thích: “Bạn không thể nhìn thấy bất kỳ đường biên giới nào từ trên này.”

Điều đó đủ để làm lung lay phần nào niềm tin sắt đá của những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Điều này hoàn toàn không có nghĩa là sẽ không có những lúc ta cần phải nghiêm túc tuyệt đối, hay những khoảnh khắc mà sự trang trọng là cần thiết. Ý chính chỉ là: sự “xì hơi” bằng hài hước là một nguồn lực quan trọng khi bất đồng đang đi chệch hướng. Chúng ta thừa hưởng một thái độ mang tính pháp lý đối với xung đột (cố gắng xác định ai đúng, bằng chứng là gì). Nhưng rất nhiều khi, điều ta cần không phải là phân xử đúng – sai, mà là giải tỏa xung đột.

Tiếng cười là một bước lùi khỏi sự đối đầu đã hóa cứng.

VAI TRÒ CỦA SỰ QUYẾN RŨ VÀ TRẤN AN

Khi người khác không đồng ý với chúng ta, phản ứng tự nhiên thường rơi vào ba cách:

Tức giận với những người ở phía đối lập: họ thật ngu ngốc.

Cố khiến họ cảm thấy tội lỗi vì những quan điểm sai lầm của mình: họ là người xấu.

Trở nên cầu kỳ, giáo điều và giảng giải họ một cách chi li: họ thiếu hiểu biết.

Những người phản đối bạn đôi khi quả thật có thể ngu ngốc, xấu xa hoặc thiếu hiểu biết. Nhưng việc nói thẳng với họ rằng họ ngu ngốc, xấu xa hay dốt nát lại có một “thành tích” rất kém trong việc thay đổi suy nghĩ của ai đó, mà rốt cuộc, đó mới chính là điều bạn mong muốn xảy ra.

Ngược lại, những cách ấy thường chỉ khiến thái độ của họ thêm cứng nhắc và làm họ sinh ra oán giận bạn.

Giận dữ, giáo điều và gieo cảm giác tội lỗi đều là những chiến lược thất bại, bởi chúng bỏ qua một yếu tố then chốt trong bất đồng. Người ở phía bên kia đang bám chặt lấy lập trường của mình, một phần vì họ đang sợ hãi, thất vọng và lo lắng. Họ không muốn bị bắt nạt; họ hoang mang trước quan điểm của chúng ta về một vấn đề nào đó, một quan điểm dường như quá xa so với những gì họ từng hy vọng; họ tự hỏi vì sao mình đã từng đồng ý gắn bó với chúng ta, hoặc vì sao đời sống xã hội của họ lại có mặt những người mang những quan điểm trái ngược đến thế.

Sự bất đồng của chúng ta đang khơi dậy trong họ nỗi sợ và sự bất an, và đó cũng là lý do vì sao việc phản đối lại họ bằng cách quá cứng rắn, hung hăng hay thiếu kiên nhẫn lại vô cùng không giúp ích. Những phản ứng ấy chẳng làm được gì để xoa dịu nỗi sợ hay làm lắng xuống sự lo âu. Nếu thực sự muốn người khác đồng thuận, thay vào đó, chúng ta nên biết sử dụng sự trấn an và sự quyến rũ.

Sự trấn an

Thật dễ để hình dung rằng người đang phản đối dữ dội trong một mối quan hệ là kẻ xấu tính hoặc kỳ quặc.

Và từ đó, ta bị cám dỗ mạnh mẽ muốn buộc họ phải thấy rõ họ xấu xa và khác thường đến mức nào, với niềm tin đơn giản (và rất đỗi tự nhiên) rằng điều này rồi sẽ dẫn đến một kết cục tốt đẹp. Chỉ cần họ nhận ra mình tệ hại đến đâu, thì họ sẽ trở nên dễ thương hơn.

Nghiên cứu tình huống: Người tị nạn tại Úc

Gần đây (tháng 8 năm 2014), Hội đồng Người tị nạn Úc đã đưa ra một tuyên bố: Khi chúng ta tiếp tục xua đuổi những người đang tìm đến để cầu xin sự giúp đỡ, chúng ta có nguy cơ bị ghi nhớ như một quốc gia nhỏ nhen và cay nghiệt, thờ ơ trước thách thức toàn cầu của tình trạng di dời cưỡng bức. Đã đến lúc nước Úc cần có một đóng góp thực sự.

Hội đồng Người tị nạn mô tả quan điểm của đa số là “nhỏ nhen và cay nghiệt”, điều này có thể đúng, nhưng cách nói ấy khó mà giành được sự ủng hộ. Trái lại, nó khiến chính phủ (được đa số hậu thuẫn) dễ dàng khắc họa Hội đồng như kẻ kiêu ngạo, thiếu trung thành và xa rời thực tế.

Bất chấp những nỗ lực của Hội đồng và hàng loạt các nhóm gây áp lực song song, The Sydney Morning Herald đưa tin rằng: “Một đa số áp đảo người Úc, 60%, muốn chính phủ ‘gia tăng mức độ cứng rắn trong việc đối xử với người xin tị nạn’.”

Điều còn thiếu trong nỗ lực xoa dịu sự bất đồng của những người phản đối người xin tị nạn là một sự thấu hiểu cảm thông hơn về lý do vì sao họ lại có quan điểm như vậy: sự thừa nhận rằng những người ghét người xin tị nạn có thể đang sợ hãi và lo lắng, chứ không phải vì họ độc ác hay kém hiểu biết. Trước tiên, những nỗi sợ ấy cần được nhìn nhận và coi trọng, rồi sau đó người ta mới có thể thay đổi suy nghĩ. Nếu không làm vậy, sự vận động của bạn chỉ càng làm gia tăng lo âu và khiến đối phương ít có khả năng đồng thuận với bạn hơn.

Trấn an không có nghĩa là nói: “Tôi biết bạn đang sợ” bởi câu đó dễ mang giọng kẻ cả. Sự trấn an bắt đầu từ việc thực sự hiểu những nỗi bất an là gì: sợ bị tràn ngập, sợ bị phớt lờ, sợ người khác được ưu ái đặc biệt trong khi mình thì không. Rồi từ đó đưa ra những lý lẽ để bảo vệ trước các viễn cảnh tệ hại ấy. Hoặc giải thích, bằng những cách đối phương có thể tiếp nhận, vì sao những điều đó thực ra sẽ không xảy ra.

Chúng ta hiểu điều này một cách bản năng khi đối diện với trẻ con. Nếu một đứa trẻ sợ rằng có quái vật dưới gầm giường, ta sẽ không nghĩ rằng nên mắng nó là ngốc nghếch, bảo nó thôi than vãn và lớn lên đi. Ta có thể hỏi xem điều gì làm nó sợ. Ta cúi xuống nhìn dưới gầm giường, và để nó cùng nhìn với mình. Ta có thể cho nó một cái chuông để rung lên gọi ta chạy đến nếu quái vật xuất hiện. Ta hỏi nó xem trong ngày có điều gì khiến nó bất an không. Thậm chí, ta còn có thể nghĩ đến việc cưa ngắn chân giường. Ta không chia sẻ nỗi lo ấy, nhưng ta dành cho đứa trẻ sự tôn trọng bằng cách coi nỗi sợ của nó là điều rất nghiêm túc.

Sự trấn an cũng vô cùng quan trọng trong những bất đồng thân mật. Có một xu hướng tai hại là nhìn người duy nhất đang mất kiểm soát trong cuộc tranh cãi (người bạn đời của mình) như kẻ xấu xa, điều này làm hỏng rất nhiều nỗ lực tìm tiếng nói chung trong đời sống gia đình.

Nghiên cứu tình huống: cái ghế sofa

A: “Tôi nghĩ mình nên thay vỏ bọc cho cái ghế sofa đó; tôi đang nghĩ đến kiểu này…”
B: “Không, không, không. Kinh khủng quá, tôi ghét nó. Sao anh/chị lại làm thế với tôi? Anh/chị lúc nào cũng làm những chuyện tệ hại như vậy.”
A: “Tôi đã làm gì đâu, tôi chỉ mới đưa ra một gợi ý thôi mà?”
B: “Biến đi.”

Người có phản ứng quá khích đến đáng lo thường không phải là kẻ xấu; trên hết, họ đang hoảng loạn và sợ hãi. Chỉ là, vào lúc ấy, chưa hề rõ họ thực sự đang lo sợ điều gì. Hoảng loạn ở đây có nghĩa là không thể bình tĩnh diễn đạt điều gì đang thực sự khiến mình khó chịu. Nó có cảm giác khẩn cấp và nghiêm trọng đến mức tâm trí lao thẳng vào sự hung hăng. Nhưng đâu đó, dưới lớp hung hăng ấy, là những nỗi lo chân thật, có lẽ vẫn có thể được nhận diện và tháo gỡ.

Chẳng hạn, người đang kích động có thể (ở tầng sâu bên dưới):

Lo lắng rằng mình đang mất quyền kiểm soát cuộc đời. Đó là một nỗi lo có thật, nhưng bị phóng đại trong trường hợp này. Khi đó, hướng đi có thể là trao đổi: nhượng bộ lựa chọn này để họ được theo ý mình ở một chuyện khác. Thực ra, họ không phản đối cái vỏ ghế sofa.

Vỏ bọc được đề xuất gợi cho họ nhớ đến một chiếc ghế trong căn nhà tập thể thời sinh viên, gắn liền với một năm tháng rất bất hạnh. Họ không ghét bạn, họ chỉ ghét một ký ức. Với chút khích lệ đầy cảm thông, có thể họ sẽ điều chỉnh được. Hoặc có thể không. Nhưng đó là một vấn đề khác, ít đối đầu hơn.

Khi ta nghiêm túc xem xét khả năng rằng người bất đồng với mình đang sợ hãi, ta mở ra một cơ hội lớn để chuyển cuộc tranh cãi sang một vùng đất nhiều hy vọng hơn.

Sự quyến rũ

Trong ngữ cảnh tình cảm, quyến rũ là sự chú tâm rất mực và tử tế, là việc tạo ra một không gian vừa vặn, nói những lời ngọt ngào và khơi gợi. Quyến rũ có thể mang màu sắc toan tính. Nhưng ở hình thức đẹp nhất, đó là một nghệ thuật hào phóng: giúp người khác vượt qua sự căng thẳng và e dè của chính họ. Lý tưởng nhất, người quyến rũ là người nâng đỡ người được quyến rũ. Khi ta được quyến rũ (lại nói đến trường hợp lý tưởng), ta không đi ngược lại lợi ích của mình; trái lại, ta được dìu dắt khéo léo đến với điều mà ta thực sự mong muốn, nhưng trước đó chưa đủ tự tin để theo đuổi.

Người quyến rũ đáng kính hiểu rằng con người thường bị níu lại bởi sự rụt rè, lo lắng và hoài nghi bản thân. Và họ kiên nhẫn làm dịu đi những lực cản không cần thiết ấy. Về cốt lõi, người quyến rũ sở hữu một dạng tự tin rất quan trọng: họ biết rằng một người chưa bị thuyết phục vẫn có thể được chinh phục bằng sự quan tâm, ấm áp và dịu dàng.

Quyến rũ cũng có vai trò trong các cuộc tranh luận công cộng. Hãy thử nghĩ xem điều gì có thể đi chệch hướng khi thiếu vắng nó.

Nghiên cứu tình huống

Năm 2009, chính phủ Anh thông báo rằng họ đang cân nhắc cắt giảm ngân sách công dành cho các ngành Nhân văn. Đây là một cách thăm dò dư luận, nhằm xem xã hội sẽ ủng hộ hay phản đối quyết định như vậy đến mức nào.

Quan điểm của chính phủ là các ngành Nhân văn chỉ là một thứ xa xỉ, được hưởng bởi số ít, vì thế không thật sự xứng đáng để chi trả bằng ngân sách công.

Nhiều người đã bị xáo trộn bởi điều này. The Guardian công kích đó là “một thứ chủ nghĩa ngu tối đen đặc”. Viện Hàn lâm Nhân văn lên án các chính sách ấy là “khô cứng và lỗi thời”. Liên đoàn Sinh viên Quốc gia than phiền rằng chính sách này “thiển cận, liều lĩnh, nghèo nàn về mặt xã hội và văn hóa, và ám ảnh bởi một hệ tư tưởng hẹp hòi, nhỏ nhen”. Họ cũng lưu ý rằng truyền thông chính thống gần như hoàn toàn im lặng. Có thể, chính sách ấy quả thực là “ngu tối” và “nghèo nàn về văn hóa”.

Dẫu đầy cảm xúc và căng thẳng, những người phản đối việc cắt giảm đã không thể kéo dư luận về phía mình. Năm sau đó, nhiều ngành Nhân văn đã mất hoàn toàn nguồn tài trợ công.

Mục tiêu có thể là chính đáng. Nhưng cách vận động thì hoàn toàn thiếu sức quyến rũ. Nó không hề cố gắng chinh phục những người còn lưỡng lự hay chưa thực sự bị thuyết phục.

Không có nỗ lực nào nhằm quyến rũ những người vốn còn nghi ngờ giá trị của các ngành Nhân văn, để họ thấy rằng việc tài trợ cho chúng có thể có lý do chính đáng.

Ở cốt lõi của sự quyến rũ là một trực giác quan trọng: trong bất kỳ bất đồng nào, ta cần cố gắng giải thích cho người khác (hay một nhóm khác) thấy điều gì khiến lập trường của mình trở nên hấp dẫn và đáng mong muốn, thay vì chỉ tập trung vào những gì tồi tệ hay sai trái trong quan điểm của họ.

CHỦ NGHĨA BI QUAN CHIẾN LƯỢC

Đôi khi, ta không thể tiến thêm bước nào trong một cuộc bất đồng, và vì thế buộc phải thực hiện một động thái vừa xa lạ vừa có phần u ám: học cách sống chung với sự bất đồng.

Điều này có thể mang lại cảm giác thất vọng sâu sắc. Có những chủ đề mà ta thường thấy quá quan trọng để có thể thỏa hiệp. Thông thường, đó là những vấn đề chính trị và xã hội lớn, có thể bao gồm:

Biến đổi khí hậu
Kinh tế
Nhập cư
Giáo dục

Nếu bạn có quan điểm mạnh mẽ về những điều này, hẳn bạn sẽ khó lòng thấy “cũng không sao” khi người khác lại nghĩ rất khác. Ta cảm thấy điều cốt yếu là sự thật, theo cách ta nhìn nhận, phải thắng thế. Ta muốn thế giới đổi thay. Ta có thể rất tự tin vào tính đúng đắn của lập trường mình.

Nhưng điều gì khiến ta tin rằng sự thật có thể chiến thắng, rằng người khác có thể bị thuyết phục, rằng bất đồng rồi sẽ được hóa giải?

Khi ta tranh cãi dữ dội với một số người (những kẻ mà ta cho là ngu ngốc và ngớ ngẩn), tâm trạng của ta thường khá tối tăm và ảm đạm. Thật khó để gọi ta, ở thời điểm ấy, là những người lạc quan.

Vậy mà chính xác là như thế – và đó lại là một thứ lạc quan vô cùng nguy hiểm, một điều mà ta nên dần dần cai bỏ. Khao khát mãnh liệt muốn người khác suy nghĩ giống mình bắt nguồn từ một niềm tin ngây thơ rằng, rốt cuộc, mọi vấn đề lớn đều có thể đạt được đồng thuận, và rằng hòa hợp là trạng thái tự nhiên giữa con người với nhau. Dĩ nhiên, lúc này ta có thể đang ở trong một cuộc đối đầu, nhưng – theo niềm tin của người tranh luận lạc quan, chỉ cần tấn công vấn đề thêm vài lượt nữa, mâu thuẫn rồi sẽ được san phẳng.

Ở bình diện chính trị, chính kiểu lạc quan này đã che đậy những khoảnh khắc lớn của sự bất dung thể chế. Thí nghiệm Xô viết bạo lực một phần vì nó quá lạc quan về khả năng đạt được đồng thuận: nó thực sự tin rằng chỉ cần thúc ép và đẩy thêm một chút, cả một quốc gia có thể bị khiến phải đồng ý với các nguyên lý của Lenin. Phải là một nhà lãnh đạo rất lạc quan mới bắt tay vào việc tra tấn phe đối lập để buộc họ đồng thuận. Gulag, suy cho cùng, là một hành động của lạc quan.

Ngược lại, các nhà nước dân chủ hiện đại lại có cấu trúc nổi bật bởi sự bi quan đối với đồng thuận. Họ biết rằng tranh chấp sẽ luôn tồn tại, và vì thế đã học cách dung chứa nó. Công dân có quyền bất đồng, không ai có thể ép buộc niềm tin của mình lên người khác, và thường thì mỗi người được để yên với những suy nghĩ riêng. Không có một cuộc truy cầu liên tục nhằm đạt được sự tán thành tuyệt đối và phổ quát.

Tất cả những điều này là hoa trái của chủ nghĩa bi quan. Bi quan khởi đi từ giả định rằng sự đồng thuận giữa con người thực ra không phải là trật tự bình thường của đời sống. Với bản chất con người như vậy, khả năng những nhóm lớn cùng nghĩ giống nhau là điều rất khó xảy ra. Ta không nên ngạc nhiên, cũng không cần quá buồn bã hay tức giận vì điều đó, cũng như ta không buồn vì thời tiết xấu hay vì một cơn cảm lạnh kéo đến. Những điều ấy vẫn xảy ra.

Khi bất đồng được nhìn nhận như điều hoàn toàn bình thường, và sự đồng thuận trở thành ngoại lệ hiếm hoi nhưng đẹp đẽ, ta có thể thôi ngạc nhiên, và vì thế thôi giận dữ cuồng nhiệt, mỗi khi gặp một người không cùng quan điểm với mình.

Người bi quan chiến lược còn hiểu rằng việc thuyết phục người khác bằng lý trí thuần túy gần như là điều rất khó: quan điểm của con người được hình thành qua nhiều năm, thông qua những động lực cảm xúc sâu xa, và mười phút trò chuyện trong bữa tối hầu như chẳng thể tạo ra khác biệt nào.

Người bi quan vì thế sẽ chuyển trọng tâm: rời xa nỗ lực cải hóa người khác, để hướng đến việc chịu đựng và quản trị sự bất đồng.

Điều này bao gồm hai phản ứng.

Phản ứng thứ nhất, ở bình diện chính trị, là:

a) Nhân quyền

Nhà nước hiện đại tìm cách xây dựng những cấu trúc có thể chứa đựng và làm dịu các bất đồng.

Điều này được thể hiện qua ngôn ngữ của nhân quyền. Nghĩa là một số quyền tự do và quyền sống của cá nhân được bảo đảm. Nhà nước không thể cưỡng ép, thuyết phục hay bắt nạt cá nhân.

Công dân cũng được kỳ vọng là để yên cho nhau. Mỗi người có một khoảng tự do rất lớn khỏi sự can thiệp của người khác.

b) Lễ độ

Những gì nhân quyền đạt được ở bình diện chính trị, thì lễ độ đạt được ở bình diện riêng tư.

Người có lễ độ coi sự lịch thiệp như một cái nắp vô cùng quan trọng, giúp kìm lại những điều có thể làm ta tổn hại lẫn nhau. Họ thực sự tin vào việc sống hòa thuận giữa người với người. Không hẳn vì họ sợ làm ai phật ý, mà bởi họ nghi ngờ rằng việc khuấy động xung đột có bao giờ là một bước đi xây dựng hay không, và họ không mấy hứng thú với những chiến thắng chỉ mang tính biểu tượng. Họ thà giữ mối quan hệ tử tế với ai đó còn hơn là thẳng thừng nói ra mọi điều đang nghĩ trong đầu. Họ hiểu rất rõ việc ta khó tiếp nhận những thông tin gây thách thức từ người khác đến mức nào. Và họ chấp nhận vai trò quan trọng của những bí mật và những lời nói dối vô hại.

Hy vọng lý tưởng là bất đồng có thể được hóa giải. Nhưng lễ độ nhắm đến một mục tiêu khiêm tốn hơn, song vô cùng thiết thực: làm thế nào để đối phó khi bất đồng không biến mất.

Lịch sự là một tập hợp những chiến thuật nhằm làm giảm cảm giác xung đột một cách “nhân tạo”, trong khi chưa có sự đồng thuận thực sự. Thay vì hoàn toàn cởi mở và trung thực về cảm xúc của mình, người có lễ độ sẽ:

Cảm ơn một người mà ta không thực sự biết ơn.
Mỉm cười khi đang thấy chán.
Cười khi chẳng hề thấy vui.
Nói rằng một ý tưởng “thú vị” trong khi nghĩ nó khá tẻ nhạt.
Giữ im lặng trước sự phản đối của mình.

Lễ độ mang tính bi quan; nó được xây dựng trên sự chấp nhận rằng ta có thể sống được dù không phải ai cũng đồng ý với mình (đặc biệt là khi ta tin rằng mình đúng).

Có thể quá khó để đạt được sự đồng thuận với người này.
Ta có nguồn năng lượng hữu hạn và nên dành nó cho những dịp quan trọng nhất.
Không phải bất đồng nào cũng đáng để giải quyết, ngay cả khi người kia hoàn toàn sai.
Hòa bình xã hội, phần lớn thời gian, vẫn tốt hơn xung đột.
Bị hiểu lầm là một phần bình thường của đời sống.

Điểm mấu chốt là: thay vì tập trung trực diện vào điểm bất đồng, lễ độ khuyến khích ta lướt quanh nó, né tránh nó, và giữ nó khuất khỏi tầm nhìn.

Người bạn đời của chị bạn có hàng loạt quan điểm mà bạn kịch liệt phản đối. Nhưng bạn chẳng gặp họ thường xuyên. Họ cũng không thực sự lắng nghe bạn. Một cuộc đổ vỡ với chị bạn sẽ rất tệ hại.

Mẹ bạn có những niềm tin sâu sắc về nghệ thuật, tôn giáo và tình dục mà bạn thấy hoàn toàn không thuyết phục. Nhưng với bà, chúng lại vô cùng quan trọng. Cố gắng thuyết phục bà từ bỏ chúng sẽ là tàn nhẫn. Bạn cần tránh bất đồng để không làm tổn thương bà một cách vô ích.

Một người bạn cũ thời đại học có những niềm tin khá kỳ quặc. Nhưng bạn không muốn ngừng gặp họ. Họ là sợi dây quý giá nối bạn với một giai đoạn đời mình.

Một đồng nghiệp trong một buổi tiếp khách bộc lộ những quan điểm chính trị mà bạn bất đồng sâu sắc. Nhưng tháng tới, bạn sẽ phải làm việc cùng họ trong một dự án lớn. Việc duy trì một mối quan hệ công việc khả dĩ là điều tối quan trọng.

Trong một bữa tiệc tối, bạn được xếp ngồi đối diện với một người mà bạn thấy vừa thiếu hiểu biết, vừa nói nhiều về những chủ đề rất quan trọng với bạn. Nhưng rõ ràng người này lại là bạn thân của chủ nhà. Bạn không được để lộ sự khinh thường của mình.

Bạn quan tâm đến mối quan hệ với chị gái nhiều hơn là đúng – sai của cuộc tranh luận với anh rể (chẳng hạn, về việc khai thác dầu ở Biển Bắc). Thường thì có những điều quan trọng hơn việc phải đúng. Có thể, trong đời, có những thứ ta trân quý hơn cả chiến thắng trong một cuộc bất đồng. Người bi quan lễ độ hiểu rất rõ điều này.

Nguồn: ON HOW TO DISAGREE | The School Of Life

menu
menu