Vì sao ta nên đón nhận “nepantla” – trạng thái lửng lơ ở giữa của đời sống

vi-sao-ta-nen-don-nhan-nepantla-trang-thai-lung-lo-o-giua-cua-doi-song

Trong một thời đại đầy những cam kết chính trị cứng rắn, một từ của tiếng Nahuatl gợi mở tự do buông bỏ những điều đã trở nên ngột ngạt

Tôi còn nhớ ngày mẹ nhận ra tiếng Tây Ban Nha của tôi bắt đầu nghe “vỡ vụn”. Khi ấy tôi mười hai tuổi. Mẹ vốn đã biết vốn tiếng Anh của tôi chẳng ra đâu, tôi hoàn toàn vô dụng mỗi khi phải làm người phiên dịch cho gia đình. Nhưng khi nghe tôi vật lộn với một từ tiếng Tây Ban Nha đa âm tiết rất đỗi bình thường, mẹ hiểu rằng chúng tôi đã chạm đến một khoảnh khắc khủng hoảng. Mẹ bật cười, rồi giữa tràng cười ấy hỏi: “Thế là không tiếng Anh, cũng chẳng tiếng Tây Ban Nha… y ahora qué? ¿El silencio?”, vậy giờ thì sao, chỉ còn lại im lặng ư? Dẫu mẹ nói đùa, câu hỏi “Rồi chuyện gì sẽ đến đây?” lại khiến tôi lo sợ thật sự. Đêm ấy, tôi luyện tiếng Anh với một cảm giác gấp gáp chưa từng có, bởi trong thâm tâm tôi biết mẹ đã chạm đúng điều gì đó: nếu tôi không thể nói trôi chảy tiếng Anh hay tiếng Tây Ban Nha, thì tôi sẽ ra sao?

Thật đáng sợ khi nhận ra mình đang dần tuột khỏi tiếng Tây Ban Nha trong khi vẫn chưa bám được vào tiếng Anh. Tôi thấy như đang làm mọi người thất vọng: cha mẹ, những người hẳn sẽ đau lòng nếu tôi ngừng nói thứ tiếng của họ; rồi thầy cô, những người hiểu rằng tương lai của tôi phụ thuộc rất nhiều vào việc tôi có nói được tiếng Anh tử tế hay không. Tôi bị kẹt giữa hai đòi hỏi trái ngược, cảm giác như chúng đang siết chặt lấy mình đến nghẹt thở.

Guanajuato, Mexico, 1987. Photo by Alex Webb/Magnum Photos

Dĩ nhiên lúc ấy tôi còn quá nhỏ để hiểu rằng điều tồi tệ nhất sẽ không xảy ra: tôi sẽ không rơi vào câm lặng tuyệt đối chỉ vì không thể nói thứ tiếng Anh hoàn hảo hay thứ tiếng Tây Ban Nha tròn trịa. Tôi rồi sẽ nói tiếng Anh với một giọng điệu nào đó, hoặc nói thứ tiếng Tây Ban Nha chắp vá như tôi từng nghe những người da trắng nói ở tiệm tạp hóa. Nhưng tôi vẫn sẽ nói. Gần bốn mươi năm sau câu hỏi “y ahora qué?” của mẹ, tiếng Tây Ban Nha của tôi vẫn còn vụn vỡ, và tiếng Anh của tôi vẫn mang âm sắc lạ.

Tôi dần bắt gặp những khoảnh khắc lửng lơ như thế suốt cuộc đời mình. Thực ra, tôi nhận ra căn tính của tôi, một người Mỹ gốc Mexico, một triết gia, một người cha, một con người, được định hình bởi sự ở-giữa ấy, bởi việc luôn đứng giữa những cam kết, bổn phận, danh xưng và kỳ vọng. Tôi cũng hiểu rằng cảm giác bị giằng xé giữa các thế giới không chỉ riêng mình tôi. Các triết gia Mexico và Mỹ Latinh có một từ để gọi nó: nepantla.

Thuật ngữ “nepantla” xuất hiện trong những ghi chép bằng tiếng Tây Ban Nha về cuộc chinh phục và thuộc địa hóa Mexico, lần đầu được Andrés de Olmos (1485–1571) ghi lại trong cuốn Arte de la lengua Mexicana năm 1547. Sau đó, nó tái xuất trong cuốn từ điển nổi tiếng do tu sĩ dòng Phanxicô Alonso de Molina (1513–79) biên soạn năm 1571. Molina cho ta thấy vị trí trung tâm của từ này trong tiếng Nahuatl. Nó hiện diện trong những cách nói chỉ “trung tâm của trái đất” (tlalli nepantla), “sứ giả” (nepantla quiza titlantli), “chia làm hai” (nepantla tequi, nitla), “giữa trưa” (nepantla Tonatiuh), hay “giữa những cực điểm” (nepantlatli), cùng nhiều sắc thái khác.

Cách dùng thường ngày của từ này được ghi lại trong History of the Indies of New Spain năm 1581 của tu sĩ dòng Đa Minh Diego Durán (1537–88). Bực bội trước một người bản địa ẩn danh đã làm điều trái với những mong đợi của trật tự thuộc địa và Công giáo, Durán giận dữ hỏi vì sao anh ta lại hành động như thế. Người đàn ông ấy không vội đáp lời, rồi bình thản nói: “Thưa cha, xin đừng quá căng thẳng, chúng con vẫn đang ở nepantla.” Câu trả lời ấy càng khiến Durán thêm khó chịu, và ông quyết đi tìm ý nghĩa của chữ “nepantla”. Sự bực dọc của Durán chỉ tăng lên khi ông hiểu rằng điều người bản địa muốn nói là: anh ta chưa thể làm theo những gì trật tự thuộc địa/Công giáo đòi hỏi, bởi anh vẫn chưa trở thành con người mà người Tây Ban Nha muốn. Anh vẫn đứng giữa lối sống cũ và mới, giữa những bổn phận mâu thuẫn, mơ hồ về căn tính của mình, và vẫn còn đang trên đường đi tới.

Gần bốn trăm năm sau, triết gia Mexico Emilio Uranga (1921–88) đã tiếp nhận lại thuật ngữ này trong tác phẩm Analysis of Mexican Being năm 1952. Ông gọi đó là “phạm trù trung tâm của bản thể luận Mexico”, bởi con người Mexico hiện đại tồn tại giữa hai dòng lịch sử đối nghịch: Tây Ban Nha và bản địa. Nữ triết gia nữ quyền Mỹ Latinh Gloria Anzaldúa (1942–2004) sau này cũng dùng lại từ ấy trong Borderlands/La Frontera (1987) để chỉ một đời sống nơi biên giới, lửng lơ giữa việc là người Mexico và là người Mỹ.

Ở trong nepantla nghĩa là đứng giữa, ở khoảng chuyển tiếp, hay ở trạng thái trung tính, chưa cam kết. Nếu bạn là nepantla, bạn khó có thể bị đóng khung. Bản thân định nghĩa của nepantla cũng khó nắm bắt, nhưng ta có thể thử lần theo vài nét:

Nepantla là khoảng “ở giữa” của những dòng thời gian, những thế giới, những tiến trình, những bước chuyển hệ hình. Cùng với Anzaldúa, ta có thể nói về việc không hẳn là người Mỹ cũng chẳng hoàn toàn là người Mexico, mà hiện hữu trong những không gian ngưỡng cửa – những “miền biên”. Hoặc ta có thể nhận ra mình lơ lửng giữa các thời tính: một quá khứ đã không còn với tới được và một tương lai xa lạ, bất định, dường như mãi mãi ngoài tầm tay.

Nepantla là “luôn đang trên đường”, đang dịch chuyển, đang ở giữa một tiến trình. Ở một nghĩa nào đó, điều này mô tả mọi con người. Chính sự hiện hữu của ta có thể được nhìn như một cuộc quá cảnh giữa sống và chết. Ta không thực sự biết mình đến từ đâu hay sẽ đi về đâu, và vì thế ta tồn tại trong một trạng thái ở-giữa thường trực.

Nepantla thách thức truyền thống phương Tây khi khẳng định chuyển động thay vì ổn định.

Và nepantla còn là sự trung tính, là một buông bỏ, hay một cách đứng bên lề để quan sát thế giới, lịch sử và đời sống mở ra mà không vội đưa ra cam kết cứng rắn. Điều ấy có thể xuất phát từ lựa chọn của ta trước những đòi hỏi bủa vây, hoặc từ việc bằng cách nào đó ta đã bị tước mất quyền năng, trở thành kẻ đứng nhìn, không tham dự. Thế nhưng, khi khẳng định sự trung tính ấy, ta lại giành lại quyền lực trước những hoàn cảnh đang đòi hỏi sự chú ý hay hành động, ta có thể nói “có” và “không”, bởi ta “vẫn còn đang ở nepantla”.

Một nét cuốn hút của khái niệm này, như Uranga nói, là nó “không vay mượn từ truyền thống phương Tây”. Thực vậy, nepantla thách thức chính truyền thống ấy khi khẳng định rằng chuyển tiếp, vận động và sự treo lơ lửng mới là những thực tại bản thể và hiện sinh, chứ không phải sự chắc chắn, ổn định hay tính thực thể cố định. Điều này mang ý nghĩa chiến lược, đặc biệt khi ta muốn đối diện với những định kiến và cách hình dung mang màu sắc thuộc địa. Nhờ thế, những sự hạ thấp người Mexico hay các dân tộc Mỹ Latinh, vốn bắt rễ từ các quan niệm phân biệt chủng tộc về “thuần khiết” và “toàn vẹn”, được đáp lại bằng một khái niệm đề cao tính ngẫu hợp, sự bất định và mestizaje, tức sự pha trộn huyết thống, như những đặc tính cốt lõi của đời người.

Nói cách khác, việc đưa nepantla vào tư cách một khái niệm triết học đánh dấu khoảnh khắc tách mình của triết học Mexico khỏi truyền thống phương Tây mà trước đó nó từng tìm cách mô phỏng. Với khái niệm này, sự bắt chước được nhường chỗ cho tính độc sáng; hơn nữa, nó còn là một sự can thiệp, một nhát cắt, một sự áp đặt của một phạm trù triết học thực sự “Mỹ châu” lên truyền thống phương Tây, phạm trù ấy nảy sinh từ trải nghiệm bản địa tiền thuộc địa nhưng lại có thể chạm đến nhiều kinh nghiệm khác. Uranga viết: “Như vậy, trước mắt ta là phạm trù trung tâm của bản thể luận chúng ta, thuần khiết và bản địa, không vay mượn phương Tây, đáp ứng khát vọng được là những kẻ độc sáng.”

Sống trong nepantla có thể rất đáng sợ. Đáng sợ bởi, trong trạng thái ấy, bạn như bị nhổ khỏi một lối sống quen thuộc và bị đặt vào vùng ngưỡng cửa không điểm tựa, chờ đợi điều chưa tới. Tôi đã cảm thấy như thế khi nhận ra mình đang mất dần một phần căn tính của người nói tiếng Tây Ban Nha, còn tương lai như một kiểu người nói khác thì mịt mờ bất định.

Nhưng điều khi ấy tôi đọc thành nỗi kinh hoàng cũng đồng thời hé lộ nepantla như một dạng tự do. Nepantla còn mang nghĩa “trung tính”. “Trung tính” ở đây là trạng thái không bị ràng buộc về đạo đức, chính trị hay xã hội, không bị trói vào bổn phận hay lòng trung thành với bất kỳ quyền lực, nơi chốn hay sự vật nào, giống như người bản địa trong câu chuyện của Durán. Bạn sẽ nếm trải một cảm giác tự do vừa lạ lẫm vừa kỳ diệu. Là sinh viên thế hệ đầu bước vào đại học, tôi sớm nhận ra mình có thể mở đời mình ra nhiều hướng khác nhau.

Những vùng ở-giữa ấy có thể trở nên ngột ngạt nếu ta thực sự không biết phải đi đâu.
Nhưng chỉ cần vậy thôi, việc khẳng định nepantla của mình, tự nhận rằng ta đang ở trong một trạng thái chuyển tiếp thường trực, từ quá khứ sang tương lai, từ sinh đến tử, từ trong trắng đến lỗi lầm, hướng về một chữ “rồi sẽ” còn vô danh, lơ lửng giữa một bước ngoặt thời đại mà hồi kết nằm ngoài tầm hiểu, đã là điều đáng làm.

Nepantla của ta có thể biểu lộ theo những cách rất bất ngờ. Ta không hẳn cấp tiến cũng chẳng bảo thủ, mà ở đâu đó giữa hai bờ; không giàu cũng chẳng nghèo, mà lưng chừng; không hoàn toàn ủng hộ hay phản đối một lập trường chính trị mới, mà giữ khoảng trung hòa. Những miền trung gian ấy có thể đè nặng nếu ta mù mịt lối đi, nhưng cũng có thể giải phóng nếu ta nhận ra sự ở-giữa như một cơ hội để hành động mà không bị trói buộc bởi kỳ vọng hay nghĩa vụ định sẵn.

Điều cuối này gợi rằng có một khác biệt giữa việc đơn thuần ở trong nepantla và việc ý thức, khẳng nhận chính mình là nepantla. Rốt cuộc, sự khẳng nhận mới là then chốt. Trong thời đại mà áp lực xã hội đòi hỏi những cam kết chính trị mạnh mẽ, trạng thái lửng lơ của ta trở thành không gian của tự do, lựa chọn và trưởng thành cá nhân, nơi ta có thể dấn thân vào những dự án hay ý tưởng thực sự quan trọng với mình, bất chấp mong đợi bên ngoài. Nhưng vì ta vẫn đang ở nepantla, và ta biết rõ điều ấy, ta cũng tự do rời bỏ những dự án hay ý tưởng nếu chúng trở nên áp bức hay gây tổn hại, tự do đổi ý và lớn lên theo những hướng không ai đoán trước. Nepantla là tự do. 

Tác giả: Carlos Alberto Sánchez là giáo sư triết học tại Đại học Bang San José. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách, gần đây nhất là Mexican Philosophy for the 21st Century (2023) và Blooming in the Ruins: How Mexican Philosophy Can Guide You Toward the Good Life (2024). Ông cũng là đồng sáng lập Journal of Mexican Philosophy. Hiện ông sống tại San José, California.

Biên tập: Sam Dresser

Nguồn: Why we should embrace ‘nepantla’ – the in-betweenness of life | Tạp chí Psyche.co

menu
menu