Cảm giác mình là duy nhất
Liệu ta có đang vô thức khước từ cái chết?
Ý CHÍNH
- Con người có thể mang một cảm giác rằng mình thật đặc biệt, rằng bản thân ta, bằng cách nào đó, đang hoặc nên được miễn trừ khỏi cái chết.
- Freud cho rằng ở tầng vô thức, chúng ta không thực sự tin vào cái chết của chính mình.
- Điều này có thể ảnh hưởng đến cách ta đối diện với quy luật sinh tử, chẳng hạn như khi nhận một chẩn đoán bệnh nan y.
Một người từng phục vụ trong quân ngũ từng kể cho tôi nghe câu chuyện đùa về thái độ của người lính trước cái chết. Nó đại ý như thế này:
Một sĩ quan cấp cao quay sang nói với cấp dưới thân cận: “Nếu tướng quân tử trận, tôi sẽ lên thay vị trí của ông ấy. Còn nếu tôi bị thương, anh sẽ lên thay tôi.”
Câu nói đùa ấy đã lột tả trọn vẹn bản chất của một hiện tượng mà tôi muốn bàn đến ở đây: cảm giác mình là duy nhất. Bằng thuật ngữ này, tôi không có ý nói đến xu hướng tự cho rằng mình tài năng, sở hữu một cá tính hiếm có, hay khác biệt với phần còn lại của nhân loại theo một cách tương tự nào đó. Những xu hướng sau tất nhiên là có tồn tại, nhưng tôi không rõ chúng phổ biến đến mức nào. Dù sao thì chúng cũng không phải là điều khiến tôi bận tâm ở đây. Điều tôi muốn thảo luận là một cảm giác mình là duy nhất mà tôi tin là cực kỳ phổ biến: cảm giác rằng chúng ta đang hoặc nên được miễn trừ khỏi cái chết. Người sĩ quan cấp cao trong câu chuyện đùa trên, ở một khía cạnh nào đó, đã nói thay cho tất cả chúng ta khi ông ta sẵn sàng hình dung về cái chết của người khác chứ không phải của chính mình. Ông ấy, và cả chúng ta nữa, dường như chẳng hề đặc biệt ngay cả trong cách ta tự nghĩ mình đặc biệt: Bởi những người khác cũng nghĩ hệt như vậy.
Trong một bài viết về cái chết, Freud cũng đưa ra gợi ý tương tự rằng ở tầng vô thức, chúng ta không tin vào cái chết của chính mình, nhưng lại chấp nhận sự hữu hạn về đời sống của người khác, ngay cả những người ta yêu thương. Theo quan điểm của ông, người lớn tự đè nén và không thừa nhận rằng mình từng nghĩ những người xung quanh, đặc biệt là người thân yêu, có thể sẽ chết, nhưng trẻ con thì không hề ngần ngại. Freud viết:
Trẻ con… hoàn toàn có thể bộc lộ suy nghĩ về cái chết liên quan đến những người mà chúng yêu thương, chẳng hạn như: Mẹ yêu ơi, khi nào không may mẹ chết đi, con sẽ làm thế này thế nọ.
Cần nói rõ rằng, hầu như chẳng ai trong chúng ta ở mức độ ý thức lại tin mình bất tử. Ta biết rõ mình là con người, và mọi con người rồi cũng phải rời bỏ cõi đời. Thực vậy, ở một góc độ nào đó, ta coi cái chết là một trong số rất ít những điều chắc chắn sẽ xảy ra. Chính Freud cũng nhận thấy rằng nỗi sợ chết điều tiết phần lớn hành vi của chúng ta. Nhưng nỗi sợ này, bằng cách nào đó, vẫn chỉ nằm ở bề nổi. Ta thường không thực sự tin rằng chính mình rồi sẽ chết. Đó là lý do tại sao những người nhận chẩn đoán mắc bệnh nan y không hiếm khi phản ứng bằng sự bàng hoàng và hụt hẫng ngỡ ngàng.

Nhà tâm thần học Irvin Yalom, trong một thảo luận về cảm giác mình là duy nhất mà tôi đang quan tâm, đã diễn đạt vấn đề như sau:
Khi một cá nhân biết tin mình mắc một căn bệnh nghiêm trọng, chẳng hạn như ung thư, phản ứng đầu tiên thường là một hình thái phủ nhận nào đó… một khi người đó thực sự thấu hiểu rằng: “Chúa ơi, mình sắp chết thật rồi,” và nhận ra rằng cuộc đời rồi cũng sẽ đối xử với mình một cách nghiệt ngã như cách nó đối xử với bao người khác, họ liền cảm thấy hoang mang, mất phương hướng và, theo một cách kỳ lạ nào đó, bị phản bội.
Tại sao ta lại cảm thấy bị phản bội khi biết được thời điểm xấp xỉ của một điều mà ta vốn luôn biết chắc trước sau gì cũng đến?
Và liệu ta có mang một khiếm khuyết khi ngầm định, dù chỉ trong vô thức và thiếu sự tự ngẫm, rằng đến cuối cùng, ta sẽ không phải đi vào hư vô? Đó chính là những câu hỏi mà tôi muốn đào sâu ở đây.
Cảm giác mình là duy nhất có phải là một cơ chế phòng vệ?
Yalom, trong chương sách mà tôi vừa trích dẫn, đã gợi ý rằng sự kỳ vọng ngầm ẩn rằng ta sẽ không chết mang tính chất tự bảo vệ: điều nó bảo vệ ta khỏi chính là nỗi sợ cái chết. Giả thuyết này chắc chắn có phần đúng. Việc không ám ảnh về điều tất yếu có lẽ là một thái độ sống lành mạnh. Có một giá trị mang tính thích nghi khi ta sống như thể mình không hề hay biết về nó. Sự che giấu, sự mơ hồ mang cảm giác thiếu thực tế về sự hữu hạn của chính mình có thể giúp ta sống một cuộc đời tốt đẹp, hệt như cách nhà triết học Kant từng nói về sự ẩn mình của Đấng tối cao giúp con người sống có đạo đức: Kant gợi ý rằng nếu sự hiện diện của Chúa luôn hiển hiện rõ ràng, ta sẽ không bao giờ hành động vì tinh thần đạo đức chân chính, mà chỉ vì nỗi sợ bị trừng phạt. Tương tự, ta cũng có thể nói rằng, nếu tư tưởng về cái chết của chính mình hoàn toàn “thấm thấu”, ta sẽ chẳng thể nào hành động vì những niềm vui hay những mục tiêu ngắn hạn trong đời.
Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác, người ta có thể lập luận rằng sẽ tốt hơn nếu ta chấp nhận sự hữu hạn của bản thân từ sớm, để không lãng phí nhiều năm tháng trì hoãn, phung phí thời gian và năng lượng vào những lo âu cùng các mục tiêu vặt vãnh. Thêm vào đó, những niềm tin sai lệch chỉ có thể bảo vệ ta trước khi sự thật bị phơi bày. Nếu không có khuynh hướng bị ru ngủ vào một cảm giác an toàn giả tạo rằng mình là kẻ “bất khả xâm phạm”, ta sẽ không bao giờ rơi vào cảnh bị buộc phải cảm thấy mình bị vận mệnh “coi thường” hay “phản bội” như cách Yalom đã đề cập trong đoạn trích trên.
Freud, trong bài viết về cái chết của mình, lại đưa ra một giả định hơi khác. Sau khi lập luận rằng “Vô thức của chúng ta… không tin vào cái chết của chính nó” và “hành xử như thể nó bất tử”, ông tiếp tục quan sát thấy rằng chúng ta không thể nào hình dung được cái chết của chính mình. Bởi việc hình dung về đám tang của bản thân hay trạng thái của thế giới sau khi ta qua đời, ở một góc độ nào đó, cũng chính là đang hình dung rằng ta vẫn tồn tại để quan sát nó.
Giả thuyết này tiệm cận hơn với quan điểm của riêng tôi, điều mà tôi sẽ bàn đến ngay sau đây.
Góc nhìn của chúng ta
Cách tự nhiên nhất để nhìn ngắm thế giới là từ chính góc nhìn của bản thân. Những người khác là hàng xóm hay người lạ, là bạn hay thù trong mối tương quan với chính ta. Thời gian và không gian nơi ta đang sống dường như chân thực hơn bất kỳ thời kỳ nào khác trong lịch sử. Quả thực, ta hoàn toàn có thể hình dung rằng toàn bộ phần còn lại của thế giới chỉ là một ảo giác do chính ta tạo ra. Trái lại, việc giả định rằng chính ta mới là kẻ không thực, rằng ta chỉ là một ảo ảnh trong trí tưởng tượng của ai đó, lại là điều gần như vô lý. Góc nhìn của ta về thế giới chính là góc nhìn định ước mặc định. Tuy nhiên, nhìn từ điểm tựa đó, ta nghiễm nhiên trở thành “trung tâm” của vũ trụ.
Tất nhiên, ta hoàn toàn có thể chọn một góc nhìn khác, chẳng hạn như góc nhìn của người khác hoặc của một kẻ đứng ngoài quan sát. Thế nhưng, làm được điều đó đòi hỏi sự nỗ lực, và sự thành công nếu có cũng chỉ là bán phần. Vấn đề không hẳn là ta không thể hình dung ra một thế giới vắng bóng mình, bởi lẽ việc hình dung ra một thế giới như vậy đồng nghĩa với việc ta đang tự biến mình thành kẻ quan sát và do đó, như Freud từng lập luận, ta vẫn đang tồn tại dưới một hình thức nào đó. Vấn đề nằm ở chỗ: một thế giới nhìn từ góc độ “không của riêng ai” và thiếu vắng sự hiện diện của ta sẽ trở nên vô cùng lạ lẫm và xa xôi: đó là một dòng chảy hỗn loạn và không có trật tự. Những cơ thể sống cùng tồn tại trong thế giới đó mỗi người đều có một góc nhìn riêng, nhưng không một góc nhìn nào có được vị thế đặc quyền như cách ta tự dành cho chính mình, bởi lẽ chẳng có góc nhìn nào trong số đó là thứ ta hiểu rõ hoặc có thể thấu hiểu một cách tường tận: mỗi góc nhìn đều là sản phẩm của một tâm trí khác, một tâm trí mà ta hoàn toàn không thể chạm tới. Vì vậy, một thế giới vắng bóng ta chính là một thế giới thiếu đi một tâm thức làm tâm điểm; một thế giới mà ở đó, cái trục trung tâm không còn giữ nổi mọi thứ gắn kết lại với nhau.
Nhà triết học Sarah Buss từng gợi ý rằng cảm giác mình là duy nhất, hay xu hướng tự hỏi “Tại sao lại là tôi?” khi chẳng may nhận chẩn đoán ung thư, như thể ta, khác với bao người khác, là kẻ không phải chết, ở một khía cạnh nào đó là điều đáng hổ thẹn về mặt đạo đức, bởi nó bộc lộ sự tự dành cho mình một đặc quyền không thể chấp nhận. Nhưng nếu những xem xét trên là đúng đắn, thì cảm giác ấy lại xuất phát từ một cội nguồn mang tính nguyên sơ hơn cả đạo đức: nó bắt nguồn từ một thực tế rằng góc nhìn mặc định của ta về thế giới luôn gắn liền với sự tồn tại của chính ta, chứ không hề bao hàm sự tồn tại của bất kỳ ai khác.
Cảm giác mình là duy nhất này có lẽ chỉ trở thành một vấn đề đạo đức nếu nó không còn là một khuynh hướng bẩm sinh ăn sâu vào tâm khảm, mà biến thành một niềm tin kiên định: tức là khi từ thực tế rằng việc hình dung cái chết của người khác dễ dàng hơn, ta lại suy ra rằng người khác xứng đáng phải chết hơn ta.
Tôi không nghĩ có nhiều người mang quan điểm đó. Quả thực, như chính Buss đã lưu ý, vẫn luôn tồn tại một hiện tượng ngược lại gọi là "mối áy náy của người sống sót": tức là sự tự dằn dặt hỏi rằng tại sao chính mình lại là người không phải chết.

