Gánh nặng của tuổi thơ
Đó là một trong những khẳng định khiến người ta bực bội dai dẳng nhất của tâm lý học hiện đại: rằng những năm đầu đời, từ lúc lọt lòng đến khoảng mười tuổi, gần như quyết định toàn bộ đời sống cảm xúc của một con người
Đó là một trong những khẳng định khiến người ta bực bội dai dẳng nhất của tâm lý học hiện đại: rằng những năm đầu đời, từ lúc lọt lòng đến khoảng mười tuổi, gần như quyết định toàn bộ đời sống cảm xúc của một con người (cách ta yêu, ta tin ai, ta nhìn nhận giá trị của chính mình ra sao, ta giao tiếp thế nào…) và là yếu tố lớn nhất lý giải sự khác biệt giữa người này với người khác, đặc biệt là những khuôn mẫu được hình thành từ sự thiếu thốn, bỏ quên về mặt cảm xúc trong thời thơ ấu.
Bị yêu cầu phải tưởng tượng rằng ở tuổi ba mươi, năm mươi lăm hay chín mươi hai, ta vẫn – bất chấp hiểu biết ngày càng nhiều, những thành tựu nghề nghiệp và cả quãng thời gian dài đã trôi qua – như những con rối bị giật dây bởi những yếu tố hình thành khi ta còn bé xíu, chỉ cao ngang một chiếc ghế, điều đó đi ngược lại mọi khát vọng chính đáng của ta về sự tự chủ, về phẩm giá, và về cơ hội được bắt đầu lại từ đầu.
Một phần khiến khẳng định ấy trở nên khó tin là vì thật sự rất khó để “nhìn thấy”, để nhớ lại hay hình dung rằng hoàn cảnh thời thơ ấu có thể tạo ra tác động lớn đến vậy. Ta không nhớ mình từng được dạy một cách rõ ràng về lòng tự trọng hay phong cách giao tiếp. Ta cũng chẳng nhớ có khoảnh khắc cụ thể nào mà mình rút ra kết luận về sự tin cậy. Ta không có ký ức nào về việc học hỏi những điều mà giờ đây ta dường như biết rất rõ, và in hằn sâu sắc về sự gắn bó. Khi ấy, ta chỉ thấy mình bận rộn xây lâu đài cát và (theo vài bức ảnh cũ trong album) làm rất nhiều động tác trồng cây chuối.
Những bài học âm thầm của những năm đầu đời
Nhưng nếu muốn giữ niềm tin vào luận điểm chung của tâm lý học, có lẽ ta nên thử một phép so sánh với ngôn ngữ. Cũng chính trong thời thơ ấu, chủ yếu từ lúc sơ sinh đến khoảng năm tuổi, ta đã học được vô vàn điều về ngôn ngữ, đã tiếp thu tiếng mẹ đẻ của mình. Không hề nhận ra, không cần đến trường lớp, trong lúc ta sinh hoạt hằng ngày (bắt chước tiếng thú trong vườn, vẽ hoa mao lương trong bếp), ta đã tiếp thu cả một kho từ vựng và một sự hiểu biết tinh vi về ngữ pháp. Ta học được các đuôi động từ, thì, cấu trúc câu và hàng trăm cách biến đổi, danh từ, tính từ, trạng từ, tất cả diễn ra trong khi ta gần như không hề biết rằng quá trình ấy đang diễn ra.
Hơn nữa, những gì ta học chịu ảnh hưởng rất mạnh từ những người ở gần ta nhất. Chính giọng nói, cách phát âm cụ thể của chỉ một hoặc hai người xung quanh đã định hình sâu sắc cách ta diễn đạt, không chỉ trong một giai đoạn ngắn, mà cho cả cuộc đời.
Cũng vào đúng thời điểm ấy, song song với ngôn ngữ ngữ pháp, ta còn tiếp thu một loại ngôn ngữ khác: ngôn ngữ cảm xúc về tình yêu, về đàn ông, về phụ nữ, về giận dữ, niềm vui, sự mong manh, nỗi buồn và sự dịu dàng. Không hề hay biết, ta học được những “quy tắc” về điều gì xảy ra khi ta trao mình cho ai đó, giá trị của ta trong mắt người khác là gì, ta cần làm gì để gây dựng tình cảm hay giữ gìn lòng trung thành. Ta học những nguyên tắc phức tạp chẳng kém gì ngữ pháp, về cách bộc lộ sự bực bội với người khác hay khả năng ta sẽ được tha thứ ra sao khi mắc lỗi.
Và cũng giống như ngôn ngữ ngữ pháp, những quy tắc này không đến từ toàn xã hội, không phải từ ảnh hưởng của hàng triệu người, mà từ “bài học” của chỉ một vài người ở gần ta nhất. Họ trở thành những người thầy vô thức, những khuôn mẫu mà ta noi theo.

Vilhelm Hammershøi, Interior with Ida Playing the Piano, 1910
Vì sao sự bỏ rơi cảm xúc thời thơ ấu để lại dư âm dai dẳng
Còn một điểm tương đồng nữa. Ngôn ngữ cảm xúc cực kỳ khó thay đổi. Bất kỳ ai từng thử, ở tuổi trung niên, học một phương ngữ mới – dũng cảm học tiếng Phần Lan hay Hàn Quốc, Bồ Đào Nha hay Inuit ở tuổi bốn mươi lăm hay năm mươi hai, đều hiểu rằng thay đổi không hề dễ dàng. Ta rất khó từ bỏ “giọng nói” gốc của mình.
Điều này có thể giúp ta kiên nhẫn hơn với chính tâm hồn mình. Thật dễ chán nản trước việc ta dường như cứ bám chặt lấy những lối cảm nhận và hành xử cũ kỹ. Ta có thể đến gặp nhà trị liệu tâm lý và than phiền rằng, dù đã đều đặn xuất hiện mỗi tuần suốt bảy tháng, ta vẫn dễ nổi nóng, vẫn có xu hướng tự phá hoại mình trước đám đông, vẫn chưa học được cách bày tỏ sự âu yếm với những người ta yêu thương.
Sự bực bội ấy là điều dễ hiểu, nhưng xét cho cùng, nó cũng không hợp lý hơn tiếng thở dài của một người đã dành từng ấy thời gian để học tiếng Iceland mà vẫn còn vấp váp với “Hvar er lestarstöðin, takk?” (“Ga tàu ở đâu, làm ơn?”) hay “Ég elska þig” (“Anh yêu em”). Ngôn ngữ cảm xúc không thể thay đổi chỉ sau một đêm, cũng như ngôn ngữ ngữ pháp. Ta sẽ còn “nghe như người ngoại quốc” trong một thời gian dài.
Học cách nói khác đi
Ta nên nhẹ tay hơn với chính mình. Có lẽ ta sẽ không bao giờ hoàn toàn giũ bỏ được “giọng nói” của nơi mình sinh ra, nhất là khi giọng nói ấy được hình thành từ những vết thương như sự thiếu thốn cảm xúc thời thơ ấu. Nhưng ta vẫn có thể làm được rất nhiều điều. Ta có thể hiểu rõ cách nói riêng biệt của mình. Ta có thể cẩn trọng khi cần để báo trước cho người khác về “phương ngữ” của ta. Ta có thể ý thức rằng đôi khi sẽ có sự lệch pha giữa lời nói và ý định. Và rồi, với nhiều hy vọng hơn, vào những lúc khác, ta có thể khiến người quen ngạc nhiên và vui thích khi hắng giọng, rồi nói ra, trôi chảy và duyên dáng một cách bất ngờ, bằng một “giọng” thật ra cũng không tệ chút nào: ‘მე მინდა რომ თქვენ იცოდეთ რომ მე ვფიქრობ თქვენზე’ (“Tôi muốn bạn biết rằng tôi nghĩ về bạn” – tiếng Georgia) hoặc ‘Ndinokuthanda, kodwa ndiyoyika’ (“Tôi yêu bạn, nhưng tôi sợ hãi” – tiếng Xhosa).
Nguồn: THE BURDEN OF CHILDHOOD | The School Of Life
---
.png)
