“Khát khao ở dạng nguyên sơ nhất”: chúng ta thực sự biết gì về limerence?
Từ nhạc pop đến thơ ca, sự say mê cuồng nhiệt luôn là nguồn cảm hứng và chất liệu cho vô vàn câu chuyện. Nhưng khi nào thì cảm xúc ấy trượt khỏi ranh giới lành mạnh, trở thành điều gì đó đáng lo hơn?
Từ nhạc pop đến thơ ca, sự say mê cuồng nhiệt luôn là nguồn cảm hứng và chất liệu cho vô vàn câu chuyện. Nhưng khi nào thì cảm xúc ấy trượt khỏi ranh giới lành mạnh, trở thành điều gì đó đáng lo hơn?
Suốt nhiều tháng sau khi mối quan hệ kết thúc, Anna* không thể ngừng nghĩ về anh.
Mỗi buổi sáng, cô choàng tỉnh trong một cú sốc đau buồn; một cảm giác mãnh liệt, gần như mang tính thể chất, rồi dần biến thành những dòng suy nghĩ về anh, nuốt trọn gần như mọi giờ phút tỉnh táo trong ngày.
Hầu hết các đêm, cô chìm vào giấc ngủ bằng cách tua đi tua lại trong đầu những cuộc trò chuyện đã qua, những viễn cảnh tái hợp chỉ tồn tại trong tưởng tượng.
Với nhiều người, nỗi khắc khoải như thế vẫn nằm trong vùng rộng lớn của khao khát lãng mạn rất đỗi bình thường, thứ thường được than thở trong thơ, trong nhạc, trong phim ảnh. Nhưng với Anna, cảm giác đau quen thuộc ban đầu ấy dần dần lớn lên, dữ dội hơn, cho đến khi gần như không thể chịu đựng nổi.
“Nó giống như bị xâm lấn,” cô nói. “Như thể chính tâm trí mình đang theo dõi mình vậy.”
Ban đầu, Anna nghĩ rằng mình chỉ đang vật lộn để bước tiếp sau cuộc chia tay. Nhưng khi những suy nghĩ ám ảnh ngày càng leo thang, cô tìm đến nhà trị liệu. Đây không chỉ là nỗi nhớ thông thường, nhà trị liệu nói với cô. Đây là limerence.

“Limerence có nhiều điểm giao thoa với thứ mà các nhà nghiên cứu gọi là tình yêu nồng nhiệt, một giai đoạn bình thường, thường rất mãnh liệt trong buổi đầu của sự phát triển tình cảm, và không ít lần được ví như một dạng nghiện.”
Ảnh: mediaphotos/Getty Images/iStockphoto
Thuật ngữ này được nhà tâm lý học Dorothy Tennov đặt ra vào những năm 1970, khi bà ghi nhận những người trải qua sự say mê mãnh liệt, không tự nguyện. Nửa thế kỷ sau, khái niệm ấy đang quay trở lại, được khuếch đại bởi công nghệ, sự cô đơn và thứ ngôn ngữ trị liệu đã thấm sâu vào đời sống thường ngày. Limerence không phải là một chẩn đoán lâm sàng, cũng không được công nhận trong DSM-5, cẩm nang tham chiếu chính về các rối loạn sức khỏe tâm thần và não bộ; nó là một khái niệm mô tả hơn là một rối loạn.
Orly Miller, nhà tâm lý học và là tác giả cuốn Limerence: The Psychopathology of Loving Too Much (Limerence: Tâm bệnh học của việc yêu quá nhiều) (sắp xuất bản vào tháng tới), mô tả nó là “một trạng thái tâm lý dữ dội của sự khao khát ám ảnh dành cho một người khác”.
“Đặc trưng của nó là những suy nghĩ xâm nhập, sự lệ thuộc cảm xúc và một mong muốn mãnh liệt được đáp lại,” bà giải thích. “Khác với sự hấp dẫn hay say nắng thông thường, limerence gắn liền với ám ảnh, biến động cảm xúc mạnh và sự xáo trộn trong đời sống hằng ngày.”
Bà nói thêm: “Trong thế giới số ngày nay, sự bất định và những tiếp xúc gián đoạn — chính là điều nuôi dưỡng limerence, xuất hiện ở khắp nơi. Mạng xã hội giữ con người lơ lửng bên rìa của sự kết nối, kéo dài những tưởng tượng và sự mập mờ cảm xúc.”
Vòng xoáy này có thể mang dáng dấp của một sự thôi thúc cưỡng bách: liên tục kiểm tra điện thoại, tua lại ký ức, lý tưởng hóa những khoảnh khắc, và tưởng tượng về những lần gặp gỡ trong tương lai. “Nó không chỉ nằm trong đầu,” Miller nói. “Đó là phản ứng căng thẳng của toàn bộ cơ thể. Hệ thần kinh bị mất cân bằng, đung đưa giữa hưng phấn và hoảng loạn.”
Phó giáo sư Sam Shpall, giảng dạy triết học đạo đức tại Đại học Sydney, cảnh báo không nên chỉ nhìn limerence như một dạng bệnh lý.
“Tennov đã bác bỏ quan điểm cho rằng limerence vốn dĩ là không lành mạnh,” ông nói. “Đó là một hình thức khao khát rất riêng của con người, có thể mang tính chuyển hóa, đôi khi gây chao đảo, đúng vậy, nhưng không nhất thiết là điều xấu.
“Nó là chủ đề muôn thuở trong văn chương và nghệ thuật, sự ngây ngất và nỗi dằn vặt của dạng khát khao đặc biệt này, dành cho một người có thể hoặc không khao khát bạn.”
Trải nghiệm ấy hé lộ điều gì đó về hình hài của sự mong manh trong ta, và về khát vọng sâu xa được nhìn thấy, được thấu hiểu.
Sam Shpall, triết gia
Limerence có nhiều điểm giao thoa với thứ mà các nhà nghiên cứu gọi là tình yêu nồng nhiệt, một giai đoạn bình thường, thường rất mãnh liệt ở buổi đầu của sự phát triển tình cảm, và không ít lần được ví như một dạng “nghiện”.
Tiến sĩ Emma Marshall, phó giám đốc Phòng thí nghiệm Khoa học về Các mối quan hệ người trưởng thành thuộc Đại học Deakin, cho biết tình yêu nồng nhiệt là một trải nghiệm phổ biến và đầy cường độ.
“Tình yêu nồng nhiệt, về bản chất, nên mang tính thích nghi và có lợi cho mối quan hệ, nó giúp con người hình thành một sự gắn bó an toàn.”
Marshall lưu ý rằng dù lý thuyết limerence của Tennov chưa được nghiên cứu rộng rãi, các khái niệm liên quan trong khoa học mối quan hệ, như tình yêu ám ảnh hay “tình yêu cuồng si” (mania love), cho thấy tình yêu nồng nhiệt trở nên đáng lo khi nó “biến thành một nỗi ám ảnh làm gián đoạn sinh hoạt hằng ngày, tổn hại đến sức khỏe tinh thần và tồn tại trong những mối quan hệ không thỏa mãn, không lành mạnh”.
Ở mức độ vừa phải, limerence có thể lành tính, thậm chí khơi gợi sáng tạo, theo lời Miller. Nhưng khi tưởng tượng thay thế cho thực tại, nó có thể gây ra một sự đứt gãy sâu sắc.
“Tưởng tượng mang lại cảm giác an ủi,” bà lập luận, “nhưng nó cũng kéo bạn rời xa thực tế và rời xa chính mình. Đối tượng của limerence trở thành một tấm màn, nơi ta phóng chiếu lên đó mọi điều mình khao khát.
“Nhiều người tin rằng họ đã tìm thấy tri kỷ hay ngọn lửa song sinh. Nhưng thứ họ thực sự đang chạm vào lại là những phần của chính mình đã bị chối bỏ.”
Nghiên cứu lâm sàng về limerence hiện vẫn còn hạn chế, nhưng Marshall cho biết người ta tin rằng limerence được nuôi dưỡng bởi sự bất định, và nó khác với những cảm xúc khác ở chỗ “trải nghiệm này nằm ngoài tầm kiểm soát”.
“Nếu tình yêu nồng nhiệt không được đáp lại, dĩ nhiên nó mang theo những cảm xúc tiêu cực rất mạnh và dữ dội, nhưng theo thời gian, những cảm xúc ấy nên lắng xuống, đặc biệt khi ta gặp những người mới có thể đáp ứng nhu cầu gắn bó của mình.”
Phoebe Rogers, một nhà tâm lý học lâm sàng, cho rằng một số người dễ tổn thương hơn trước những trải nghiệm như vậy. “Những người từng trải qua sang chấn, hoặc đã sớm được ‘làm mẫu’ cho kiểu yêu một chiều, không được đáp lại; hay những hình thức yêu thương không an toàn, không lành mạnh,” cô nói. “Những ai có kiểu gắn bó kém an toàn được cho là có nguy cơ cao hơn.”
Limerence trở nên không lành mạnh khi nó can thiệp vào công việc, các mối quan hệ khác, hoặc làm xói mòn lòng tự trọng.
“Nếu những suy nghĩ về người kia chiếm trọn đời sống của bạn, nếu bạn đau khổ và không thể dừng lại dù đã cố gắng, đó là lúc cần tìm đến sự giúp đỡ,” Miller nói.
Trị liệu có thể giúp mỗi người điều hòa cảm xúc, nhận diện sự lý tưởng hóa, và hiểu những vết thương gắn bó đang nuôi dưỡng nỗi ám ảnh.
Sự lãng mạn của cuộc theo đuổi
“Nghệ thuật và âm nhạc đại chúng thường xem sự dai dẳng là một đức hạnh,” Shpall nói. “Nhưng trong thực tế, sự kiên trì bất chấp những ranh giới đã được nói rõ là một dấu hiệu đáng tin cậy của tổn hại. Limerence không thể là cái cớ cho điều đó.”
Miller đồng tình: “Chúng ta được dạy rằng hình thức cao nhất của tình yêu là cường độ. Phim ảnh, âm nhạc, thậm chí cả văn hóa tự lực, đều lãng mạn hóa cuộc theo đuổi, nỗi khát khao, và cả nỗi đau. Nhưng sự thân mật đích thực là về cảm giác an toàn và tính tương hỗ, chứ không phải hỗn loạn cảm xúc.”
Với một số người, những yếu tố làm tăng cảm giác kết nối, như sự gần gũi, công nghệ, hay sự bất định về cảm xúc, có thể làm nhòe ranh giới. Thứ bắt đầu như một nỗi khao khát, dưới áp lực hay sự từ chối, có thể trượt thành những hành vi liên lạc lặp đi lặp lại, hay những nỗ lực tái lập sự gần gũi theo cách vượt quá giới hạn, chẳng hạn như theo dõi.
Miller nhấn mạnh rằng limerence không đồng nghĩa với hành vi theo dõi hay erotomania — một tình trạng tâm lý gắn liền với một số dạng hành vi rình rập, theo dõi.
“Trong erotomania, một người giữ niềm tin hoang tưởng cố định rằng người kia yêu mình,” bà nói. “Người đang ở trong trạng thái limerence thường biết rằng cảm xúc của mình có thể không được đáp lại. Những hành vi như liên tục kiểm tra mạng xã hội của ai đó xuất phát từ lo âu, chứ không phải từ ham muốn kiểm soát hay ác ý.”
Theo Miller, việc nhận diện limerence đúng với bản chất của nó có thể mang lại cảm giác giải phóng. “Khi người ta nhận ra đây không phải là tình yêu, mà là limerence, họ bắt đầu giành lại năng lượng của mình.”
“Họ có thể tự hỏi: rốt cuộc nỗi khao khát này đang nói về điều gì? Thường thì nó chỉ ra những phần bị bỏ quên trong chính con người ta, những nhu cầu chưa được đáp ứng về sự công nhận, an toàn, hay cảm giác sống động.”
Rogers cũng đồng ý rằng limerence thường phản ánh những nhu cầu chưa được thỏa mãn. “Ai trong chúng ta cũng mang trong mình một khát vọng được yêu thương, được kết nối, được gần gũi và an toàn bên một người khác,” cô nói. “Nhiều khi, limerence đang chạm tới một nhu cầu sâu hơn, cốt lõi hơn.”
Trong khi tâm lý học đại chúng có xu hướng bệnh lý hóa limerence, những triết gia như Shpall lại nhìn thấy trong đó những manh mối về ý nghĩa làm người. “Trải nghiệm limerence là đối diện với khát khao ở một trong những dạng nguyên sơ nhất của nó,” ông nói.
“Trải nghiệm ấy hé lộ điều gì đó về hình hài của sự mong manh trong ta và về khát vọng được nhìn thấy. Nó quá phổ biến, và cũng quá được coi trọng, để chỉ bị xem như một vấn đề.
“Có lẽ mục tiêu không phải là loại bỏ limerence, mà là học cách nuôi dưỡng nó một cách khôn ngoan, trân trọng cường độ của cảm xúc con người, mà không để mình bị nó nuốt chửng.”
* Tên nhân vật đã được thay đổi
Tác giả: Nicole Madigan
Nguồn: ‘Desire in one of its rawest forms’: what do we know about limerence? | The Guardian
.png)
