Nghĩ mình trên trung bình? Ai mà chẳng thế

nghi-minh-tren-trung-binh-ai-ma-chang-the

Cái tôi phình to và sự phủ nhận có thể dẫn đến thất vọng trong các mối quan hệ.

Ai trong chúng ta cũng muốn tin rằng mình đặc biệt, xứng đáng được yêu thương, và giống như những đứa trẻ ở Lake Wobegone, đều trên mức trung bình. Hiệu ứng “trên trung bình” này rất phổ biến. Phần lớn học sinh cuối cấp trung học tự xếp mình vào nhóm 25 phần trăm đứng đầu (và trong số đó, có đến 25 phần trăm cho rằng mình thuộc top 1 phần trăm). Đây không chỉ là chuyện kém toán. Khoảng 94 phần trăm giáo sư đại học tin rằng khả năng giảng dạy của họ trên mức trung bình. Nghe thì trái logic, nhưng lại chẳng khiến ta ngạc nhiên. (Điều có vẻ lạ là 6 phần trăm giáo sư buồn bã kia, những người nghĩ mình dưới trung bình. Có lẽ họ cần một buổi trị liệu chăng?)

Những ví dụ khác thì nhiều vô kể: bác sĩ thường dự đoán mình chẩn đoán giỏi hơn thực tế, và các giám đốc điều hành tự tin rằng họ xứng đáng với từng đồng trong mức lương khổng lồ của mình. Người kém năng lực lại càng có xu hướng phóng đại khả năng bản thân. Hiện tượng này được gọi là hiệu ứng Dunning–Kruger, và nó xuất hiện ở sinh viên đại học khi làm bài thi, những người làm bài kém nhất lại thường là người phóng đại khả năng của mình nhiều nhất. Nó cũng thấy ở sinh viên y khoa khi thực hành phỏng vấn: những người yếu nhất lại có nhu cầu tô vẽ nhiều nhất, còn những người giỏi và xuất sắc thì chẳng cần khoe khoang.

Trong tình yêu, cái tôi cũng dễ phình to, khiến việc tìm được tiếng nói chung trở nên khó khăn. Nếu bạn tin rằng ý kiến của mình là đúng (mà dĩ nhiên là bạn tin như thế), thì tại sao phải lắng nghe ý tưởng “ngớ ngẩn” của người bạn đời? Nhưng trớ trêu thay, họ cũng đang nghĩ y hệt như vậy về bạn. Và thế là một cuộc đấu ý chí âm thầm bắt đầu.

Các cặp đôi cũng thường đánh giá quá cao bản thân. Cô ấy nói mình sẽ về nhà sớm hơn thực tế (“chỉ 15 phút nữa thôi, em thề”), còn anh ấy tin rằng ngày mai mình sẽ hứng khởi hơn. Cả hai đều nghĩ mình sẽ sẵn sàng rời đi sớm hơn so với thực tế. Không có gì ngạc nhiên khi ai cũng cho rằng mình rửa bát nhiều hơn, và đặc biệt là đàn ông thường ước lượng quá cao mức độ giúp đỡ việc nhà của mình. Khi được hỏi mỗi người làm bao nhiêu phần trăm việc nhà, tổng cộng hai bên thường lên đến khoảng 120 phần trăm.

Ai cũng muốn bảo vệ cái tôi mong manh của mình. Chúng ta dễ dàng tin vào lời khen, dù đôi khi nó méo mó chẳng kém gì những lời chê mà ta vội vàng gạt đi. Nhà tâm lý học Harvard, Daniel Gilbert, từng cho các tình nguyện viên làm những bài trắc nghiệm tính cách giả, được nói là “đánh giá” bởi chuyên gia. Sau đó, họ nhận được bản phản hồi chi tiết nhưng đầy xúc phạm từ một nhà tâm lý. Tất nhiên, tất cả đều là giả. Những người tham gia, hy vọng đã được trả công xứng đáng, được bảo rằng họ có rất ít phẩm chất tốt, hoặc người khác thích họ chỉ vì họ không gây đe dọa (các nhà tâm lý quả là biết cách đùa).

Dĩ nhiên, ai mà chẳng bực mình. Ai lại muốn nghe rằng mục đích sống của mình chỉ là giúp người khác cảm thấy tốt hơn khi so sánh? Nhưng rất nhanh sau đó, người tham gia tìm cách phủ nhận tính đáng tin của bài kiểm tra hay của nhà tâm lý. Họ tự nhủ: “Họ đâu có biết con người thật của mình,” hoặc “Nghĩ thế thì đúng là ngốc.” Có lẽ họ đã sẵn sàng tin ngay nếu bản phản hồi giả kia nói rằng họ tuyệt vời.

Source: Ali Pazani/Pexels

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu còn để một người khác chứng kiến cảnh nhà tâm lý đưa ra những nhận xét gay gắt ấy. Điều thú vị là người quan sát lại tỏ ra khó chịu hơn cả người trực tiếp nhận lời đánh giá thô lỗ. Vì sao? Người bị chê có xu hướng dựng lên hàng rào phòng vệ và gạt bỏ phản hồi ấy. Còn người quan sát thì không bị tấn công, nên họ chỉ đơn giản nghe những lời xúc phạm và không thích thấy ai đó bị bắt nạt. Trong khi đó, người hứng chịu “đòn” lại đơn giản “khước từ điều không thể chịu nổi”, theo cách gọi của Freud, và từ chối lời chỉ trích ấy.

Gilbert gọi đó là hệ miễn dịch tâm lý. Giống như hệ miễn dịch của cơ thể, nó âm thầm theo dõi môi trường xung quanh và chỉ bật lên khi có điều gì đó xảy ra, như một vết thương hay cơn cảm cúm. Tương tự, khi ta bị tấn công về mặt tinh thần, hệ thống phủ nhận lập tức kích hoạt, vội vã đẩy mối đe dọa ra ngoài. Những va chạm nhỏ không đủ để khởi động cơ chế này, vì phản ứng với mọi điều vụn vặt sẽ phản tác dụng. Khi hệ miễn dịch cơ thể phản ứng quá mức, như trong dị ứng hay viêm tự miễn, hậu quả không mấy tốt đẹp. Và nếu hệ miễn dịch tâm lý trở nên quá nhạy, sự phủ nhận sẽ bùng lên chỉ vì một đe dọa nhỏ nhoi, khiến con người luôn trong trạng thái dễ tự ái trước bất kỳ điều gì họ cho là bị xúc phạm.

Khi tôi trò chuyện với các cặp đôi về sự phủ nhận, họ thường nhận ra nó rất nhanh. Vấn đề là họ nhìn thấy nó ở đối phương, đó lại là một kiểu phủ nhận về chính sự phủ nhận. Điều này cũng dễ hiểu, vì thừa nhận mình đang phủ nhận không hề dễ. Nhưng sống trong thực tế là điều quan trọng, và thực tế của một mối quan hệ luôn bao gồm cả hai góc nhìn. Dùng cả hai mắt, ta mới thấy được chiều sâu; lắng nghe cả hai phía, mối quan hệ mới trở nên rõ ràng và chính xác hơn. 

References

Mlodinow, Leonard. (2012). Subliminal: How Your Unconscious Mind Rules Your Behavior (New York: Harper Collins, 2012).

Jacqui Gabb, Martina Klett-Davies, Janet Fink, and Manuela Thomae, "Enduring Love? Couple Relationships in the 21st Century." Survey Findings Report. Milton Keynes: The Open University (2013): 1-96.

David Dunning, Kerri Johnson, Joyce Ehrlinger, and Justin Kruger. "Why People Fail To Recognize Their Own Incompetence." Current Directions in Psychological Science 12, no. 3 (2003): 83-87.

Daniel T. Gilbert., Matthew D. Lieberman, Carey K. Morewedge, and Timothy D. Wilson, "The Peculiar Longevity of Things Not So Bad," Psychological Science 15, no. 1 (2004): 14-19.

Tác giả: Jason Whiting Ph.D.

Nguồn: Think You're Above Average? Don’t We All | Psychology Today

menu
menu