Sự khác biệt giữa triết học và tâm lý trị liệu
Từ xa nhìn lại, triết học và tâm lý trị liệu có vẻ rất giống nhau. Cả hai đều quan tâm đến những vấn đề lớn của tâm trí, đều hướng tới việc giúp con người tìm ra ý nghĩa, đều mong muốn tạo sinh hạnh phúc.
Từ xa nhìn lại, triết học và tâm lý trị liệu có vẻ rất giống nhau. Cả hai đều quan tâm đến những vấn đề lớn của tâm trí, đều hướng tới việc giúp con người tìm ra ý nghĩa, đều mong muốn tạo sinh hạnh phúc.
Nhưng có một khác biệt cốt lõi. Triết học tin rằng con người sẽ bừng tỉnh và thay đổi ngay khi sự thật được trình bày trước mắt họ. Còn tâm lý trị liệu, khôn ngoan và tinh tế hơn nhiều – hiểu rằng điều đó hầu như chẳng bao giờ xảy ra. Môn này, trên hết mọi thứ, quan tâm đến việc khám phá và vượt qua những “cơ chế phòng vệ”, những bức tường kỳ lạ mà ta dựng lên để che chắn bản thân khỏi những nhận thức táo bạo nhưng đáng sợ, những điều mà nếu đủ can đảm đối diện có thể thay đổi cuộc đời ta theo hướng tốt đẹp hơn.

Raffaello Sanzio da Urbino, The School of Athens, 1509–1511
Niềm tin triết học vào sự thật
Khi triết học ra đời ở Athens cổ đại, người ta cho rằng chỉ cần sự thật thôi cũng đủ để mở khóa sự phát triển đạo đức và tinh thần của con người. Trong các đối thoại của Plato, Socrates được khắc họa đang trò chuyện với nhiều người Athens, và ông gỡ rối lối nghĩ rối ren của họ bằng một phong thái vừa táo bạo vừa thẳng thừng, rất nhanh chóng và với kết quả gần như kỳ diệu. Chỉ sau hai mươi phút tranh luận biện chứng, một bạo chúa nhận ra rằng mình nên tử tế với dân chúng; một thương nhân giàu có quyết định, trên đoạn đường ngắn từ quảng trường chợ xuống bến cảng, xoay lại cuộc đời mình để hướng về triết học.
Tâm lý trị liệu khẽ bật cười trước sự ngạo mạn ấy. Nó hiểu quá rõ rằng ta có thể nhìn rất đúng điều gì đang “trục trặc” ở một người, mà vẫn không thể vì thế khiến họ thay đổi. Kết quả thường gặp nhất khi nói cho ai đó biết lỗi lầm trong cách sống của họ là phản kháng, chối bỏ và tức giận. Chúng ta là bậc thầy trong việc xua đuổi những ý tưởng hay: ta cho rằng người mang đến một nhận thức mới đang muốn hại ta; ta kết luận rằng mình đang bị tấn công chứ không phải được giúp đỡ; ta nghe rồi lập tức quên những gì vừa nghe; ta nghiện rượu, thể thao hay tin tức để bảo đảm rằng mình không bao giờ thực sự nghĩ hay cảm. Tâm trí ta dường như không được thiết kế chủ yếu để đón nhận hiểu biết và trưởng thành; nó chủ yếu nhằm duy trì trật tự quen thuộc vì một thứ yên ổn ngắn hạn, khô cằn.
Triết học so với tâm lý trị liệu
Một nhà trị liệu tâm lý trung bình thường có thể, vào cuối buổi gặp đầu tiên kéo dài năm mươi lăm phút, nói ra được điều gì “không ổn” ở thân chủ. Họ có thể nhìn khá rõ rằng người này là kẻ luôn làm vừa lòng người khác, hoặc không tách ra được khỏi mẹ mình, hoặc đang tìm kiếm sự trừng phạt qua tình dục sau một tuổi thơ bị lạm dụng. Nhưng nói thẳng điều ấy ra gần như là vô vọng. Sự thật phải được cắt thành những mảnh rất nhỏ và đưa ra trong suốt nhiều tháng, nhiều năm, thì may ra mới có thể tiêu hóa được.
Điều mà tâm lý trị liệu đã hiểu là: con người chỉ thay đổi khi, và chỉ khi, họ cảm thấy vô cùng an toàn. Bất cứ thứ gì quá to tiếng, quá táo bạo hay quá gấp gáp đều làm tâm trí mong manh của ta hoảng sợ. Ta chỉ dám khám phá những khiếm khuyết và vướng mắc của mình khi cảm thấy có ai đó hoàn toàn đứng về phía ta. Bản thân tâm lý trị liệu cũng mất một thời gian để thấm nhuần trọn vẹn ý tưởng này. Những người thực hành thời kỳ đầu thường nghiêm khắc và im lặng (để giữ một dáng vẻ gần như y khoa). Họ hiếm khi mỉm cười; họ trông trống rỗng và gần như cau có, cho đến khi người ta phát hiện rằng kiểu vô cảm ấy, thay vì giúp thân chủ can đảm nhìn lại đời mình, lại có nhiều khả năng làm họ sợ hãi đến câm lặng và xấu hổ.
Những điều kiện để ta thay đổi
Ngày nay, một nhà trị liệu trung bình tiến hành công việc của mình với sự ấm áp hiếm có. Nụ cười của họ bao dung, cách cư xử hòa nhã và đầy trắc ẩn. Họ làm mọi thứ rất nhẹ nhàng. Họ lắng nghe với sự dịu dàng, tất cả chỉ với hy vọng tiếp thêm cho ta năng lượng để chấp nhận (sau mười tám tháng) rằng, có lẽ, đúng vậy, ta luôn chọn những người yêu sẽ hành hạ ta như cha ta từng làm, hoặc ta quả thật có một khuôn mẫu ghen tuông với phụ nữ bắt nguồn từ mối động lực với mẹ mình.
Chúng ta có thể không phải là nhà trị liệu, nhưng ta có thể mượn sự kiên nhẫn và khiêm tốn của ngành này trong cách cư xử với người khác. Trong những buổi họp mặt gia đình hay trong các mối quan hệ, thật dễ bị cám dỗ để nói thẳng cho người ta biết “vấn đề của họ là gì”. Lần tới gặp lại, ta sẽ nói cho mẹ biết rốt cuộc vấn đề của bà nằm ở đâu; trong bữa tối, ta sẽ nói cho người bạn đời biết vì sao họ cứ tự phá hoại cơ hội của mình ở công việc. Tâm lý trị liệu khuyên ta hãy dừng lại. Ta có thể đang nắm trong tay sự thật; nhưng tất cả phụ thuộc vào sự nhẫn nại và bao dung của ta trong cách truyền đạt nó. Ta sẽ phải làm cho “học trò” của mình cảm thấy vô cùng an toàn, sẽ phải bảo đảm cho họ về tình yêu của ta trong một khoảng thời gian dài đến khó tin, và có lẽ sẽ cần một hay hai năm chỉ để chạm tới một ý tưởng nghe có vẻ đơn giản nhất.
Trong cuộc so găng kéo dài giữa triết học và tâm lý trị liệu, bài học rút ra là một bài học khiến ta khiêm nhường. Triết học từng nghĩ rằng chỉ riêng sự thật thôi cũng có thể cứu rỗi ta. Tâm lý trị liệu, với sự tinh khôn hơn nhiều, đã hiểu rằng: sự thấu suốt chỉ có thể đến với ta qua con đường của tình yêu.
Nguồn: THE DIFFERENCE BETWEEN PHILOSOPHY AND PSYCHOTHERAPY | The School Of Life
---
.png)
