“Thằng bé chỉ mê màn hình thôi mà”
Chúng đang chạm tay, khúc khích cười và chìm đắm hoàn toàn. Nhưng chúng đang bỏ lỡ điều gì?
NHỮNG ĐIỂM CHÍNH
- Ngôn ngữ không tự nhiên mà lớn lên. Nó nảy mầm từ những cuộc trò chuyện.
- Những cuộc trò chuyện và sự giao tiếp liên tục giúp phát triển tiềm năng nhận thức và xã hội.
- Thời gian trước màn hình đang thay thế những tương tác xã hội thiết yếu.
- Chụp cộng hưởng từ (MRI) cho thấy trẻ có thời gian dùng màn hình cao có mức độ toàn vẹn chất trắng thấp hơn.
Chúng tôi đến một quán cà phê nhỏ để có một buổi trưa dễ chịu cùng nhóm bạn. Khi chúng tôi đến nơi, mọi người đã ngồi vào bàn và rôm rả chuyện trò. Một em bé ngồi trong xe đẩy, giữa bố và mẹ. Cậu bé mải mê nhìn vào một thiết bị được gắn trên xe.
Ngay cả trước khi chúng tôi kịp ngồi xuống, những nụ cười chào đón đã nở ra, và những câu chuyện vui lập tức tuôn chảy; tiếng cười, tiếng đùa vang lên khi chúng tôi cùng nhau chọn món. Cậu bé không ngẩng đầu.
Bố mẹ em tỏ ra rất quan tâm và dịu dàng. Cậu bé rõ ràng đang vui vẻ, hài lòng, mắt dán vào màn hình, tay chạm chạm liên hồi.
“Thằng bé chỉ mê màn hình thôi mà,” một trong hai người nói. “Cứ chạm là nó vui. Chỉ khi nào không được chơi trò chơi với mấy nhân vật hoạt hình thì nó mới buồn. Nhìn nó vui vậy là thấy thích lắm rồi.” Hôm đó, ai cũng vui trong buổi gặp gỡ ấy. Tất cả chúng tôi đều có một khoảng thời gian thật dễ chịu.
Những cuộc trò chuyện liên tục là điều cốt lõi
Thời gian trước màn hình đang thay thế những tương tác qua lại vô cùng quan trọng (những ánh nhìn, cử động, lời nói) vốn diễn ra trong mỗi cuộc trò chuyện. Chính quá trình đối thoại trực diện, liên tục và không ngắt quãng ấy (sự gắn kết mặt đối mặt giữa người lớn và trẻ nhỏ, rồi từ trẻ nhỏ đáp lại người lớn) mới là nền móng xây dựng ngôn ngữ, hiểu biết xã hội và sự phát triển nhận thức (Hutton và cộng sự, 2020; Madigan và cộng sự, 2019; Nwachukwu và cộng sự, 2025; Rayce và cộng sự, 2024; Wan và cộng sự, 2025).
Chính trong những trao đổi trực diện thiết yếu ấy mà tư duy phản biện bắt đầu hình thành, và những năng lực ngôn ngữ phức tạp, bền vững dần dần xuất hiện. Nếu sự trò chuyện xã hội mặt đối mặt, liên tục, đa chiều và giàu tính tương tác, không diễn ra, bộ não sẽ không phản hồi và phát triển theo cách cần thiết (Hutton và cộng sự, 2020; Madigan và cộng sự, 2019; Nwachukwu và cộng sự, 2025; Rayce và cộng sự, 2024; Wan và cộng sự, 2025).
Ngôn ngữ không tự động phát triển. Nó lớn lên qua từng lượt trao đổi — những khoảnh khắc nhỏ bé khi đứa trẻ cất tiếng bập bẹ, cha mẹ đáp lời, rồi đứa trẻ lại đáp lại, cứ thế, không ngừng. Nghiên cứu của Rayce và cộng sự (2024), thực hiện trên 31.125 trẻ em, cho thấy việc sử dụng thiết bị di động nhiều hơn có liên hệ nhất quán với khả năng ngôn ngữ diễn đạt và tiếp nhận kém hơn. Những bằng chứng ngày càng chỉ về một thực tế rõ ràng (về mặt xã hội, và có lẽ cả thần kinh học, là “thảm khốc”): trẻ nhỏ đang lớn lên trong một môi trường bão hòa màn hình, rực sáng, nhanh, và luôn sẵn sàng trong tầm tay.
Những hoàn cảnh bất lợi ấy, ở cả cấp độ cá nhân lẫn xã hội, có liên hệ với sự chậm phát triển ngôn ngữ đáng kể, sự gắn bó cảm xúc – xã hội yếu hơn, gia tăng biểu hiện cảm xúc tiêu cực, và mức độ phát triển tiềm năng nhận thức thấp hơn rõ rệt, những điều vốn cần thiết để việc học tập có thể diễn ra thành công, và quan trọng hơn, có thể tiếp tục bền bỉ về sau (Hutton và cộng sự, 2020; Madigan và cộng sự, 2019; Nwachukwu và cộng sự, 2025; Rayce và cộng sự, 2024; Wan và cộng sự, 2025).
Những phát hiện này đến từ các nghiên cứu hành vi, báo cáo của cha mẹ và các công trình chụp não cho thấy sự thay đổi trong các đường dẫn chất trắng liên quan đến ngôn ngữ, nơi có bằng chứng vật lý về sự suy giảm kết nối ở các vùng phụ trách mạng lưới chú ý, cùng với khả năng diễn đạt và tiếp nhận ngôn ngữ yếu hơn, vốn từ phát triển chậm hơn và chức năng điều hành kém hơn (Choi và cộng sự, 2025; Massaroni và cộng sự, 2023; Rayce và cộng sự, 2024; Wan và cộng sự, 2025).

Image: Kunlathida6242/Shutterstock
Chụp cộng hưởng từ (MRI) và chụp ảnh khuếch tán tensor (DTI)
Sử dụng chụp cộng hưởng từ (MRI) và chụp ảnh khuếch tán tensor (DTI), Hutton và cộng sự (2020) phát hiện rằng trẻ từ 3–5 tuổi có mức độ sử dụng màn hình cao hơn thì độ toàn vẹn chất trắng (myelin) thấp hơn đáng kể. Theo Hutton và cộng sự (2020), điều này có nghĩa là những kết nối thần kinh – sinh học cốt lõi cần thiết cho ngôn ngữ, khả năng đọc viết và chức năng điều hành đã không được phát triển đầy đủ. Theo Fields (2008), điều đó liên quan trực tiếp đến chính những hệ thống mà trẻ cần cho việc tư duy, chú ý, lập luận, học tập, tự điều chỉnh và tự quản lý bản thân.
Tiếp nối các nghiên cứu về việc sử dụng màn hình và tác động của nó lên myelin, một nghiên cứu của Xie và cộng sự (2025) theo dõi 11.878 trẻ em trong hai năm cho thấy thời gian dùng màn hình cao dự báo sự thay đổi trong quá trình trưởng thành của não bộ, và có mối liên hệ mạnh mẽ với khó khăn về chú ý cũng như sự suy giảm chức năng điều hành của vỏ não trước trán.
Hơn nữa, Xie và cộng sự (2025) nhận thấy rằng sự giảm trưởng thành của vùng trước trán không chỉ đơn thuần là vấn đề chú ý; nó phản ánh những tổn thương vật lý đối với hệ thống myelin bao quanh sợi trục thần kinh, hệ thống giúp chúng ta suy nghĩ phản biện, phân tích, tư duy bậc cao, lập luận, và phát triển cũng như duy trì khả năng tự điều chỉnh và tự quản lý bản thân.
Myelin
Myelin là một chất màu trắng, giàu chất béo, có tính cách điện (cách ly xung điện), được cấu tạo chủ yếu từ lipid và lipoprotein, bao bọc quanh các sợi trục thần kinh. Quá trình này được gọi là sự myelin hóa. Các sợi trục ấy cũng chính là những “đường dẫn” thần kinh hay dây thần kinh. Myelin tạo thành một lớp cách điện quanh các sợi trục, giúp các xung điện truyền đi nhanh hơn và hiệu quả hơn dọc theo tế bào thần kinh. Nếu myelin không phát triển đúng cách, tác động tiêu cực lên cấu trúc não và sự phát triển cá nhân sẽ rất đáng kể (Coyle, 2009; Paus, 2010).
Việc nhìn thiết bị liên tục đang thay thế tiềm năng phát triển
Điều cần lưu ý ở đây là: nếu một đứa trẻ không phân tích, thì các mạch thần kinh cần cho việc phân tích sẽ không được hình thành. Việc nhìn thiết bị liên tục đang thay thế tiềm năng phát triển và những trải nghiệm sống động bằng sự tiếp nhận thụ động, những vòng kích thích – phần thưởng diễn ra nhanh chóng, sự chú ý bị dẫn dắt từ bên ngoài, trạng thái nhận thức rời rạc, và quá trình xử lý nội tâm tối thiểu (Christakis và cộng sự, 2018; Madigan và cộng sự, 2019; Sticca và cộng sự, 2025).
Lựa chọn của bạn, quyền năng của bạn
Hoàn cảnh xã hội tiêu cực này và những tác động tiềm tàng của nó lên não bộ không nhất thiết phải tiếp diễn. Mọi thứ có thể thay đổi ngay từ bây giờ, nhanh và mạnh như một tia chớp. Sự nhận ra quyền năng của bạn bắt đầu từ câu hỏi trong Thuyết Trách Nhiệm: “Tôi chịu trách nhiệm về điều gì, và tôi có quyền năng gì?”
Câu trả lời “tia chớp” là: “Tôi chịu trách nhiệm, và tôi có quyền năng đối với những gì tôi nghĩ, tôi làm, tôi nói, tôi học và tôi lựa chọn.”
Quyền năng ấy (thuộc về bạn và do bạn làm chủ) có thể được thực hiện ngay lúc này! Hãy tắt tất cả các thiết bị và bắt đầu trò chuyện.
Chỉ một hành động ấy thôi cũng sẽ khơi dậy phản ứng thần kinh tức thì trong não bộ, đồng thời củng cố những tiến trình xã hội nuôi dưỡng sự gắn kết văn hóa và tương tác gia đình thiết yếu, định hình cảm giác thuộc về và bản sắc của một đứa trẻ. Sau cùng, không gì quan trọng hơn gia đình và tất cả những điều được học hỏi trong đó, đặc biệt khi những tương tác xã hội, những cuộc trò chuyện và những trò chơi nối dài đang diễn ra (Purje, 2014).
References
Choi, E. J., Nichols, E. S., Tomfohr-Madsen, L., Giesbrecht, G. F., Manning, K. Y., Lebel, C. A., & Duerden, E. G. (2025). Longitudinal Associations Between Screen Time, Brain Development, and Language Outcomes in Early Childhood. BioRxiv, 2025-08.
Christakis, D. A., Ramirez, J. S. B., Ferguson, S. M., Ravinder, S., & Ramirez, J. M. (2018). How early media exposure may affect cognitive function: A review of results from observations in humans and experiments in mice. Proceedings of the National Academy of Sciences, 115(40), 9851-9858.
Coyle, D. (2009). The Talent Code. Greatness isn’t born, it’s grown. Arrow Books, Random House.
Fields, R. D. (2008). White matter in learning, cognition and psychiatric disorders. Trends in Neurosciences, 31(7), 361-370.
Hutton, J. S., Dudley, J., Horowitz-Kraus, T., DeWitt, T., & Holland, S. K. (2020). Associations between screen-based media use and brain white matter integrity in preschool-aged children. JAMA Pediatrics, 174(1), e193869-e193869.
Madigan, S., Browne, D., Racine, N., Mori, C., & Tough, S. (2019). Association between screen time and children’s performance on a developmental screening test. JAMA Pediatrics, 173(3), 244-250.
Massaroni, V., Delle Donne, V., Marra, C., Arcangeli, V., & Chieffo, D. P. R. (2023). The relationship between language and technology: How screen time affects language development in early life—a systematic review. Brain Sciences, 14(1), 27.
Nwachukwu, E. C., Nigam, A., Sakarkar, P., Bheemaneni, R. S., & Malasevskaia, I. A. (2025). Impact of Screen Time on Language Development and Vocabulary Acquisition in Early Childhood: A Systematic Review. Cureus, 17(11).
Paus, T. (2010). Growth of white matter in the adolescent brain: myelin or axon? Brain and cognition, 72(1), 26-35.
Purje, R. (2014). Responsibility Theory® (Who’s got the power?)®. Amazon/Kindle.
Rayce, S. B., Okholm, G. T., & Flensborg-Madsen, T. (2024). Mobile device screen time is associated with poorer language development among toddlers: results from a large-scale survey. BMC Public Health, 24(1), 1050.
Sticca, F., Brauchli, V., & Lannen, P. (2025). Screen on= development off? A systematic scoping review and a developmental psychology perspective on the effects of screen time on early childhood development. Frontiers in Developmental Psychology, 2, 1439040.
Wan, X., Kang, X., Chen, S., Du, J., Yan, F., & Bai, Y. (2025). Analysis of the impact of parents' electronic screen time habits, young children's screen exposure and parent-child interaction on language development delay in young children. Frontiers in Pediatrics, 13, 1667048.
Xie, Y., Zhang, S., Orban, C., Ooi, L. Q. R., Kong, R., Floris, D. L., ... & Yeo, B. T. (2025). Convergent and divergent brain–cognition relationships during development revealed by cross-sectional and longitudinal analyses in the ABCD Study. bioRxiv: the preprint server for biology.
Tác giả: Ragnar Purje Ph.D.
Nguồn: "He Just Loves His Screen Time" | Psychology Today
.png)
