Với một số người mang bệnh tâm thần, không phải lúc nào nói ra cũng là điều tốt
Những chiến dịch đầy thiện ý vẫn kêu gọi sự cởi mở và trò chuyện về những chật vật trong sức khỏe tinh thần. Nhưng cũng có những người trân quý sự im lặng.
Trong một tập phát sóng năm 2019 của chương trình truyền hình nổi tiếng Britain’s Got Talent, hai người dẫn chương trình Ant và Dec đã khiến khán giả bất ngờ. “Trong 15 năm qua,” Dec nói, “số trẻ em Anh mắc lo âu và trầm cảm đã tăng tới 48 phần trăm, một con số đáng kinh ngạc. Nhưng chỉ cần những điều đơn giản như cùng trò chuyện và lắng nghe nhau thôi cũng có thể bồi đắp sức khỏe tinh thần của chúng ta.” Khoảnh khắc để lắng nghe bắt đầu ngay lập tức, khi hai người dẫn chương trình thông báo sẽ có một phút tạm dừng đầy ngượng nghịu trên sóng. Những tấm bảng hiện lên, mời gọi khán giả “hãy dùng sự im lặng này để nói chuyện với nhau”. Thế là chiến dịch “vì sức khỏe tinh thần” của ITV mang tên Britain Get Talking chính thức ra đời. “Thấy chưa, có khó gì đâu nhỉ?” Ant nói sau khi phút im lặng kết thúc. Rồi chương trình lại tiếp tục như thường lệ.
Có một giả định rất phổ biến rằng sự im lặng trong bệnh tâm thần vốn dĩ là điều gây hại, một ý nghĩ đã được khắc sâu vào chúng ta qua vô số chiến dịch như Britain Get Talking. Họ cảnh báo rằng con người đang “chịu đựng trong im lặng” và rằng bệnh tâm thần là một “kẻ giết người thầm lặng”. Vì thế, họ thúc giục chúng ta “phá vỡ sự im lặng”.
Những chiến dịch như thế hướng đến một mục tiêu rất rộng. Chúng nhắm vào cả sự im lặng theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen của những người có và không có bệnh tâm thần. Im lặng theo nghĩa bóng là khi người ta không lên tiếng về một vấn đề nào đó, chẳng hạn các rắc rối về sức khỏe tinh thần, hoặc khi họ nói ra nhưng không được lắng nghe đúng mức. Còn im lặng theo nghĩa đen là khi một người thực sự không nói gì cả. Britain Get Talking kêu gọi chúng ta chống lại cả hai kiểu im lặng ấy.
Cả hai dạng im lặng này đều có thể gây tổn thương cho những người mang bệnh tâm thần. Định kiến xã hội có thể ép buộc họ phải chịu đựng trong im lặng, cả theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, vì sợ phản ứng của người khác nếu họ kể ra những vật lộn của mình. Sự im lặng bị áp đặt ấy còn được củng cố thêm khi những người xung quanh không muốn nói về, hay không sẵn lòng đón nhận các cuộc trò chuyện về sức khỏe tinh thần, tức là chính họ cũng rơi vào thứ im lặng mang tính ẩn dụ. Ant và Dec đã cố gắng giúp những người đang chịu đựng trong sự câm nín bị áp đặt ấy bằng cách tạo ra một không gian, dù rất ngắn ngủi, để họ cảm thấy an tâm mở lòng, và để gia đình hay bạn bè khích lệ họ làm điều đó.

Photo by Stock Colours/Getty Images
Nhưng sẽ là sai lầm nếu cho rằng mọi kiểu im lặng trong bệnh tâm thần đều mang cùng một khuôn dạng như thế. Như một người mắc rối loạn lưỡng cực từng nói với tôi, trong thế giới của bệnh tâm thần tồn tại cả một cầu vồng của im lặng. Có những khoảng im lặng mang gam màu tối, khó phân biệt với những đám mây giông của bệnh tật hay kỳ thị. Nhưng cũng có những khoảng sáng rực rỡ, đẹp đẽ, đem lại sự xoa dịu giữa cơn bão khổ đau. Và còn rất nhiều sắc độ khác nằm lưng chừng ở giữa.
Là một nhà triết học về tâm thần học, trước đây tôi cũng từng xem im lặng trong bệnh tâm thần như một cách nói tắt của tổn hại. Tôi không chỉ ngấm sâu những khẩu hiệu quen thuộc về sức khỏe tinh thần, mà còn chịu ảnh hưởng của triết học phương Tây, một truyền thống trí thức thường đồng nhất lời nói với sự thăng hoa, còn im lặng với khổ sở. Những quan niệm ấy đặc biệt phổ biến trong lĩnh vực của tôi. Trong triết học tâm thần học, sự im lặng của người mang bệnh thường bị xem như một triệu chứng của bất công tri thức, một dạng tổn thương xảy ra khi sự bên lề hay định kiến xã hội làm suy yếu khả năng chia sẻ hoặc tiếp nhận tri thức của một cá nhân.
Thế nhưng, trong quá trình tìm hiểu cách những người mắc rối loạn lưỡng cực xoay xở với thứ bất công tri thức mà họ phải đối mặt, tôi bắt đầu hoài nghi lối hạ thấp im lặng một chiều ấy. Tôi đã thoáng nhìn thấy cầu vồng của sự im lặng.
Với những người mang trong mình các rối loạn khí sắc, sự im lặng là một nguồn sống thiết yếu, và thường phải khó nhọc lắm mới giành được.
Vì thế tôi quyết định nhìn gần hơn vào sự im lặng trong bệnh tâm thần. Nghiên cứu của tôi tập trung vào những trải nghiệm ở ngôi thứ nhất về sự im lặng theo nghĩa đen trong nhóm bệnh được gọi là rối loạn khí sắc. Nhóm này bao gồm những chẩn đoán tâm thần phổ biến nhất, như rối loạn trầm cảm điển hình, hay thường được gọi là trầm cảm lâm sàng, và rối loạn lưỡng cực, một tình trạng đặc trưng bởi những giai đoạn hưng phấn với năng lượng và hoạt động tăng cao, xen kẽ với những giai đoạn trầm uất. Nhìn từ góc độ im lặng, rối loạn khí sắc đặc biệt đáng chú ý, bởi trong những đợt trầm cảm, con người thường trở nên lặng lẽ khác thường. Ngược lại, trong những cơn hưng cảm, họ lại nói nhiều đến mức cực đoan. Cứ như thể trong trầm cảm, khả năng cất lời bị bào mòn, còn trong hưng cảm, khả năng giữ im lặng lại dần tan biến.
Nghiên cứu của tôi, một phần của dự án Epistemic Injustice in Healthcare (EPIC) do Wellcome tài trợ, đã tiếp cận nhiều lời kể ở ngôi thứ nhất về rối loạn khí sắc. Những chất liệu này được rút ra từ các cuộc phỏng vấn do nhóm EPIC thực hiện, từ hồi ký cá nhân, cùng các diễn đàn và blog trên mạng. Công trình cũng được dẫn dắt bởi hai nhóm cố vấn gồm những người đang sống chung với rối loạn khí sắc và các chuyên gia thực hành trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần.
Trái với giả định rằng im lặng vốn dĩ luôn gây hại, nghiên cứu này cho thấy rằng, với những người mang các căn bệnh ấy, việc được im lặng, tức là thực sự không phải nói, lại là một nguồn lực thiết yếu, và thường là điều họ phải rất vất vả mới giành được.
Một trong những người chúng tôi phỏng vấn là một bà mẹ đơn thân đang đi làm và sống cùng rối loạn lưỡng cực. Chị luôn khao khát một khoảng lặng bình yên, nơi mình không cần phải cất lời. Bất cứ người mẹ nào cũng có thể thấy điều đó thật khó kiếm. Nhưng với chị, ước muốn ấy còn mãnh liệt hơn, bởi chị có một người mẹ áp đặt, thiếu cảm thông với căn bệnh của con gái. Dẫu vậy, chị vẫn xoay xở tạo ra cho mình vài không gian bí mật, nơi chẳng ai đòi hỏi chị phải nói. Ở đó, chị chỉ đơn giản được im lặng, và trong im lặng ấy:
“Có những ngày tôi nói là mình ở văn phòng, mẹ sang đón chó với lũ trẻ, còn tôi thì cứ thế… ra sân bay ngồi nhìn máy bay hạ cánh… Tôi biết… ở trên đó sẽ chẳng ai tìm thấy mình… Thường thì cũng không có mấy người. Nếu có thì chỉ là mấy người dắt chó đi dạo, và, ừ, mọi thứ rất yên và rất tĩnh.”
Chị không hề đơn độc. Rất nhiều người mắc rối loạn khí sắc khao khát kiểu im lặng này, bởi nó mang lại sự giải thoát khỏi những đòi hỏi xã hội mà căn bệnh đã khiến họ không còn đủ sức gánh nổi, như việc phải kìm lại thôi thúc nói ra những điều có thể làm tổn thương người khác hay chính mình, hay phải vật lộn với vòng xoáy những ý nghĩ u tối trong đầu.
Không phải vì tôi xấu hổ. Mà vì tôi biết không phải ai cũng xứng đáng được chạm vào phần ấy của tôi.
Có người, như người phụ nữ chúng tôi phỏng vấn, tìm thấy im lặng trong sự đơn độc và trong khoảng không tĩnh tại bên ngoài. Điều đó có thể là trốn vào thiên nhiên, tắt ti-vi và máy tính, tô màu trong một cuốn sách, hay ngồi thiền. Nhưng im lặng bình yên không phải lúc nào cũng nằm trong cô tịch. Có người lại cảm nhận nó giữa những không gian ồn ã: lắng nghe âm nhạc, nghe tiếng bạn bè rì rầm nói chuyện trong quán rượu, hay để ti-vi khe khẽ phát ở phía sau.
Những lời kể ở ngôi thứ nhất còn soi sáng nhiều dạng im lặng được trân trọng khác. Nổi bật trong số đó là những im lặng mang tính bảo vệ. Đó là thứ im lặng mà người ta chọn để che chở cho mình hoặc cho người khác bằng cách không nói ra. Có khi là giữ lại những suy nghĩ có thể khiến gia đình hoảng sợ, chặn dòng lời tuôn trào có thể làm bạn bè choáng ngợp, hay không tiết lộ chẩn đoán của mình trong các chiến dịch “Hãy lên tiếng” tại nơi làm việc. Những im lặng bảo vệ này rất dễ bị nhầm với sự im lặng do kỳ thị áp đặt, như một người được phỏng vấn khác đã nói: “Nếu tôi không nói về chẩn đoán của mình ở vài không gian nhất định, không phải vì tôi xấu hổ. Mà vì tôi biết không phải ai cũng xứng đáng được chạm vào phần ấy của tôi.”
Nhiều người trong chúng ta xem khả năng được im lặng như một điều hiển nhiên. Nhưng với rối loạn khí sắc, đặc biệt trong những cơn hưng cảm, ngay cả những khoảng lặng bình thường nhất cũng có thể trở nên xa vời. Một người đã diễn tả cảm giác ấy thế này:
“Tôi vật lộn với việc cứ phải kể cho mọi người xung quanh nghe về TẤT CẢ những vấn đề riêng tư của mình. Như thể có một thôi thúc liên tục phải lấp đầy sự im lặng, phải nói, và tôi không thể dừng lại cho đến khi phơi bày hết từng chi tiết cuối cùng về đời sống cá nhân, những thứ sâu kín nhất, với người khác.”
Với những ai xoay xở để giữ được im lặng, điều đó thường đòi hỏi sự tập trung khác thường cùng những cách rất riêng, như rung nhẹ chân, mím chặt lưỡi, hay bấm móng tay vào lòng bàn tay. Và ngay cả khi làm được, sự im lặng ấy vẫn mong manh dễ vỡ.
Khi chúng ta mặc định rằng im lặng trong bệnh tâm thần luôn có hại và cần phải bị phá vỡ, ta vô tình khiến việc tìm kiếm và gìn giữ những khoảng lặng mà họ mong muốn trở nên khó khăn hơn. Điều này xảy ra ngay cả khi xuất phát từ thiện chí tốt đẹp. Hãy thử hình dung một người giống như bà mẹ đơn thân ở trên, đang ngồi bên gia đình vào buổi tối để xem Britain’s Got Talent. Những tiếng nói từ màn hình và những lời bình luận vu vơ của người thân tạm thời đẩy lùi những ý nghĩ u tối đang lởn vởn trong đầu chị.
Rồi một điều bất ngờ xảy đến. Thay vì giới thiệu tiết mục tiếp theo, hai người dẫn chương trình như với tay vào tận phòng khách của chị. Họ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phá vỡ sự im lặng quanh bệnh tâm thần và bảo khán giả hãy dành một phút để làm điều đó với nhau. Gia đình chị quay sang nhìn chị. Họ nghi chị không ổn nhưng không rõ liệu chị có đang điều trị trầm cảm hay không. Có lẽ họ còn khích lệ chị lên tiếng. Thế nhưng chị không hề muốn nói, về căn bệnh hay về bất cứ điều gì khác. Tất cả những gì chị mong chỉ là tận hưởng khoảnh lặng ngắn ngủi và hiếm hoi này. Nhưng đã quá muộn mất rồi.
Thật dễ để suy ra rằng những ai không chia sẻ trải nghiệm của mình hẳn đang làm điều gì đó sai.
Một tình huống như thế nghe có vẻ xa vời, nhưng thực ra không hề hiếm. Một người khác trong số những người chúng tôi phỏng vấn đã kể lại trải nghiệm tương tự:
“Tôi cảm giác mình buộc phải nói. Người ta thường hỏi: có chuyện gì vậy, bạn ổn không, bạn cần gì không? Và không phải lúc nào tôi cũng có lời để đáp lại. Có khi tôi chỉ muốn ngồi yên trong im lặng, nhưng tôi vẫn thấy áp lực phải trả lời… để người khác cảm thấy dễ chịu hơn trước sự im lặng của tôi.”
Cách nhìn quá thiên lệch và tiêu cực của chúng ta về im lặng trong bệnh tâm thần đã góp phần tạo nên những áp lực ấy.
Cách hiểu đó còn được phản chiếu và củng cố bởi diễn ngôn công cộng về sức khỏe tinh thần. Như một cây bút đang sống cùng bệnh tâm thần từng nhận xét, những chiến dịch như Britain Get Talking có thể chất thêm áp lực lên vai người ta, buộc họ phải kể ra trải nghiệm của mình. Họ tôn vinh những người dám cởi mở về chẩn đoán và câu chuyện cá nhân. Dẫu những con người ấy thật can đảm, người ta rất dễ suy diễn rằng những ai không làm theo, những ai chọn im lặng, hẳn đang sai ở đâu đó.
Vậy chúng ta nên làm gì? Có phải nên ngừng khuyến khích mọi người nói về những khó khăn sức khỏe tinh thần của mình? Dĩ nhiên là không. Thế nhưng, việc giảm kỳ thị và khích lệ tìm kiếm giúp đỡ không nhất thiết phải đi kèm với việc hạ thấp giá trị của im lặng. Chúng ta cần nhận ra rằng có những dạng im lặng trong bệnh tâm thần mang tính kiến tạo, khó nắm bắt và phải rất chật vật mới có được; và rằng đôi khi, việc dành chỗ cho im lặng lại chính là một hành động yêu thương. Để thấu hiểu cả giá trị lẫn tổn thương của im lặng, ta cần học cách nhìn nó như một cầu vồng.
Tác giả: Dan Degerman là nghiên cứu viên tại Khoa Triết học, Đại học Bristol, Vương quốc Anh. Ông phụ trách một nghiên cứu trường hợp về sự im lặng và rối loạn lưỡng cực trong khuôn khổ dự án Epistemic Injustice in Healthcare do Wellcome tài trợ.
Biên tập: Sam Dresser
Nguồn: For some with mental illness, it’s not always good to talk | Tạp chí Psyche.co
.png)
