Đừng lo lắng quá, những người hay bất an – lo âu cũng có mặt lợi của nó

dung-lo-lang-qua-nhung-nguoi-hay-bat-an-lo-au-cung-co-mat-loi-cua-no

Những lời thì thầm tiêu cực trong tâm trí và những tưởng tượng đầy lo âu có thể không hoàn toàn xấu, chúng đôi khi mang lại những lợi ích như sự sáng tạo dồi dào hơn và sức khỏe tốt hơn

Tôi không nhớ nổi một quãng đời nào mà trong ngày của mình lại không có ít nhất một nỗi lo lớn phủ bóng. Khi còn là một đứa trẻ, tôi thường nằm thao thức, sợ đủ thứ trên đời: từ nỗi xấu hổ sắp xảy ra trong giờ thể dục, đến cái chết của cha mẹ, cho tới viễn cảnh một cuộc hủy diệt hạt nhân. Hình dạng của những nỗi sợ ấy có thể đã đổi khác theo năm tháng, nhưng xu hướng luôn nhìn thấy thảm họa thấp thoáng nơi chân trời thì vẫn còn nguyên.

Và tôi không hề đơn độc. Những dòng độc thoại tiêu cực trong đầu và những tưởng tượng nhuốm màu u ám là những đặc điểm quen thuộc của một nét tính cách mang tên “tính bất an” (neuroticism). Cũng như các đặc điểm tính cách khác, nó có thể được đo lường bằng những câu hỏi rất đơn giản, chẳng hạn như:

Bạn có thường xuyên “căng thẳng thần kinh” không?
Bạn có lo lắng quá lâu sau một trải nghiệm xấu hổ không?
Cảm xúc của bạn có dễ bị tổn thương không?
Bạn có hay bị giày vò bởi cảm giác tội lỗi không?
Bạn có phải là người dễ cáu kỉnh không?

Nếu bạn trả lời “có” cho tất cả những câu hỏi này, thì rất có thể bạn thuộc nhóm người có mức độ bất an cao – cùng với khoảng 30% dân số.

Illustration by Philip Lay/Observer Design.

Trong một thời gian dài, mức độ bất an cao được xem là điều đáng lo ngại thực sự; nó thường gắn liền với sức khỏe tinh thần và thể chất kém, cũng như tuổi thọ thấp hơn. Thế nhưng, những nghiên cứu gần đây cho thấy chúng ta có lẽ nên nhìn nhận đặc điểm này một cách cân bằng hơn. Một số người hay lo lắng biết cách biến nỗi lo thành nhiên liệu cho sự sáng tạo, và trong một số hoàn cảnh nhất định, họ thậm chí còn có nguy cơ mắc những bệnh nghiêm trọng như tim mạch hay ung thư thấp hơn.

Ảnh hưởng của tính bất an phụ thuộc rất nhiều vào cách chúng ta lựa chọn xử lý những cảm xúc mà nó tạo ra, và khi được trang bị hiểu biết ấy, mỗi người trong chúng ta đều có thể học cách quản lý những cuộc đối thoại tiêu cực với chính mình hiệu quả hơn.

Tư duy trắng – đen

Cái nhìn ảm đạm về tính bất an có thể truy nguyên về phân tâm học Freud và Jung vào đầu thế kỷ 20. “Họ cho rằng lo âu là thứ cần phải được chữa khỏi,” tiến sĩ Adam Perkins, Đại học King’s College London, cho biết.

Quan điểm này vẫn được giữ nguyên khi các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu năm đặc điểm tính cách lớn – cởi mở với trải nghiệm, dễ chịu, tận tâm, hướng ngoại và tính bất an – mỗi đặc điểm đều có thể được đo trên một phổ liên tục. Nhờ đó, các nhà nghiên cứu có thể xác định những hệ quả của từng đặc điểm. Đáng tiếc là những bức tranh hiện ra thường thiếu đi sự tinh tế. “Các nhà nghiên cứu tính cách thường nhìn mọi thứ theo kiểu trắng – đen,” Perkins nói; mức độ hướng ngoại cao hơn trung bình được xem là “hoàn toàn tốt”, còn mức độ bất an cao hơn trung bình thì bị coi là “hoàn toàn xấu”.

Những ai yêu mến tác giả Susan Cain hẳn đã sớm nhận ra sự sai lầm của cách tiếp cận này. Trong cuốn Quiet, bà đã bóc tách quan niệm cho rằng hướng ngoại luôn là điều đáng khao khát, và chỉ ra rằng hướng nội, thái cực đối lập của nó, cũng có thể là một phẩm chất đáng quý. Chẳng hạn, những người hướng nội thường đưa ra quyết định tốt hơn khi làm lãnh đạo, và khi được tận hưởng sự tĩnh lặng mà họ khao khát, họ thể hiện khả năng sáng tạo vượt trội hơn.

Những người hay lo lắng có thể nhạy bén hơn trong việc phát hiện sớm các vấn đề sức khỏe, trước khi chúng trở thành mối nguy

Tính bất an có lẽ cũng đang cần một sự thay đổi trong cách nhìn nhận. Lấy ví dụ cho quan điểm cho rằng mức độ bất an cao góp phần làm sức khỏe thể chất suy giảm, thông qua phản ứng căng thẳng quá mức. Về mặt lý thuyết, ý tưởng này nghe có vẻ hợp lý, nhưng các bằng chứng khoa học lại không thống nhất. Trong khi một số nghiên cứu cho thấy tính bất an dẫn đến bệnh tật và tuổi thọ ngắn hơn, thì những nghiên cứu khác lại không tìm thấy mối liên hệ nào. Thậm chí, một vài công trình còn chỉ ra rằng những người có mức độ bất an cao lại khỏe mạnh hơn và sống thọ hơn so với những người có tính khí lạc quan, vô tư. Những nghiên cứu này được thực hiện nghiêm túc, với cỡ mẫu tương đối lớn, nên không thể dễ dàng gạt bỏ.

Thay vì xem tính bất an như một khối đồng nhất, có lẽ chúng ta cần chú ý nhiều hơn đến cách đặc điểm này biểu hiện ở từng người khác nhau. Chẳng hạn, những nghiên cứu gần đây của tiến sĩ Alexander Weiss và các cộng sự tại Đại học Edinburgh cho thấy tính bất an có thể tồn tại dưới nhiều “dạng” khác nhau. Với một số người, nó biểu hiện bằng sự lo âu lan tỏa và cảm giác căng thẳng thường trực; họ dễ mô tả mình là “bồn chồn”, “căng như dây đàn”. Với những người khác, tính bất an lại gắn với những nỗi lo cụ thể hơn. Họ có xu hướng để tâm trí mình mãi vương vấn những khoảnh khắc xấu hổ trong quá khứ, và thường bị dày vò bởi cảm giác tội lỗi về những sai lầm đã mắc phải.

Trong cuốn sách bán chạy Quiet, tác giả Susan Cain đã chỉ ra rằng hướng nội cũng có thể là một phẩm chất đáng quý, và bà dẫn chứng bằng những người hướng nội nổi tiếng như Rosa Parks, Chopin, Dr. Seuss và Steve Wozniak.
(Ảnh: Katherine Anne Rose/The Observer)

Để tìm hiểu xem những khác biệt này có ảnh hưởng đến các kết cục sức khỏe như tử vong do ung thư hay bệnh tim mạch hay không, nhóm của Weiss đã tiến hành một loạt nghiên cứu, phân tích hồ sơ sức khỏe của hàng trăm nghìn người. Kết quả cho thấy những người đạt điểm cực cao ở tất cả các khía cạnh của tính bất an thực sự có nguy cơ tử vong cao hơn một chút. Tuy nhiên, những người chỉ thể hiện một mặt của đặc điểm này lại có xu hướng sống khỏe mạnh hơn nhiều.

Nhóm “lo âu – căng thẳng” không hề đối mặt với nguy cơ cao hơn so với mức trung bình của dân số. “Yếu tố này dường như không có mối liên hệ thật sự mạnh mẽ theo bất kỳ chiều hướng nào,” Weiss nhận xét. Trong khi đó, những người mang đặc trưng của sự lo lắng quá mức lại có nguy cơ mắc bệnh thấp hơn so với mặt bằng chung. “Họ ít có khả năng tử vong vì mọi nguyên nhân.”

Lý do chính xác cho hiện tượng này vẫn chưa được làm sáng tỏ, nhưng có khả năng rằng, nhờ sự cảnh giác cao độ, những người hay lo lắng dễ nhận ra các dấu hiệu bất ổn về sức khỏe từ sớm, trước khi chúng kịp trở thành mối nguy thực sự.

Việc những nỗi lo ấy có chuyển hóa thành lợi ích cho sức khỏe hay không còn có thể phụ thuộc vào sự hiện diện của những đặc điểm tính cách khác. Chẳng hạn, những người vừa bất an vừa có mức độ tận tâm cao thường có xu hướng lập kế hoạch cụ thể để cải thiện sức khỏe của mình. Các nghiên cứu gần đây cho thấy những người “bất an nhưng tận tâm” ít hút thuốc hơn, và có khả năng tuân thủ các khuyến nghị về vận động thể chất cao hơn so với mức trung bình.

Những lợi thế của việc lo lắng

Trong những hoàn cảnh phù hợp, mức độ bất an cao hơn cũng có thể nuôi dưỡng khả năng sáng tạo dồi dào hơn. Suy cho cùng, những nỗi lo của người hay bất an dường như bắt nguồn từ một trí tưởng tượng hoạt động quá mạnh mẽ. “Bạn có một kiểu màn ảnh chiếu phim bên trong đầu, nơi bạn liên tục trình chiếu những khả năng khác nhau, cho phép bạn lật đi lật lại vấn đề trong tâm trí,” Perkins nói. Ở mặt tiêu cực nhất, khuynh hướng này có thể dẫn đến sự nghiền ngẫm u sầu, nhưng nó cũng mở ra khả năng suy nghĩ sâu sắc hơn và nảy sinh những ý tưởng độc đáo hơn. “Có lẽ bạn sở hữu một lợi thế nào đó so với người chẳng bao giờ nghĩ đến các vấn đề.”

Perkins dẫn ra ví dụ về Isaac Newton, người được biết đến với khí chất u sầu và hay trăn trở, vốn rất phổ biến ở những người có mức độ bất an cao hơn trung bình. Các trước tác của ông cho thấy Newton đã dành rất nhiều thời gian để xoay vần những câu hỏi khoa học khiến ông day dứt. “Ông ấy liên tục nghiền ngẫm những vấn đề ấy, và rồi, có khi sau hàng tháng hay thậm chí hàng năm, ông mới có thể tìm ra lời giải.”

Các thí nghiệm trong phòng thí nghiệm cho thấy mức độ bất an cao hơn dẫn đến khả năng giải quyết vấn đề sâu sắc hơn

Giả thuyết của Perkins, dĩ nhiên, vẫn mang tính suy đoán, nhưng một số khảo sát đã phát hiện rằng các nghệ sĩ thành công thường có mức độ bất an cao hơn so với mặt bằng chung. Bên cạnh đó, một vài thí nghiệm trong phòng thí nghiệm cũng gợi ý rằng mức độ bất an cao hơn giúp con người giải quyết vấn đề một cách thấu suốt hơn. Perkins còn dẫn lại một nghiên cứu của tiến sĩ Paul Irwing tại Đại học Manchester, người gần đây đã khảo sát tính cách của các nghệ sĩ hài nghiệp dư và chuyên nghiệp. Dù các đặc điểm tính cách trung bình của hai nhóm khá tương đồng, Irwing nhận thấy các nghệ sĩ hài chuyên nghiệp có mức độ bất an cao hơn đáng kể so với nhóm nghiệp dư và so với dân số nói chung.

Một cách giải thích có thể là đời sống của những nghệ sĩ hài chuyên nghiệp, theo thời gian, khiến họ trở nên bất an hơn. Rốt cuộc, sống nhờ tiếng cười của người khác đâu phải điều dễ dàng, nhất là khi họ luôn phải đối diện với ánh nhìn soi xét của giới phê bình. Tuy nhiên, Irwing cho rằng khả năng này khó xảy ra; có rất ít bằng chứng cho thấy các yếu tố môi trường, như nghề nghiệp, có thể làm thay đổi tính cách. Ông đề xuất rằng mối quan hệ nhân quả đi theo chiều ngược lại: chính tính bất an mới là thứ khiến con người trở nên hài hước hơn.

Sigmund Freud, người xem lo âu là thứ có thể được chữa trị thông qua phân tâm học, đã đóng vai trò then chốt trong việc hình thành một nền văn hóa coi tính bất an là điều có vấn đề.
(Ảnh: API/Gamma-Rapho/Getty Images)

Chẳng hạn, sự nhạy cảm cao độ trước những va chạm xã hội hay những khoảnh khắc bẽ bàng có thể dẫn đến hiện tượng l’esprit de l’escalier, cảm giác chỉ nghĩ ra câu nói hóm hỉnh hoàn hảo sau khi cuộc trò chuyện đã kết thúc. Những suy nghĩ ấy sau đó có thể trở thành chất liệu cho những màn hài mới mẻ, thứ mà người ít có xu hướng nghiền ngẫm những tình huống khó xử khó lòng nghĩ ra. Thậm chí, các nghệ sĩ hài còn có thể phóng đại chính những suy tư bất an ấy để tạo hiệu ứng gây cười. Từ Joan Rivers đến Simon Amstell, không ít danh hài đã đào xới những nỗi lo của mình để nuôi dưỡng tiết mục biểu diễn.

Xét đến việc tiếng cười giúp giảm căng thẳng, Irwing cho rằng hài hước còn là một chiến lược hữu ích để các nghệ sĩ hài đối phó với những nỗi lo ám ảnh tâm trí họ theo cách xây dựng hơn. “Các nghệ sĩ hài biến điều tiêu cực thành điều tích cực.”

Dẫu mang lại nhiều bất an và khổ tâm, tính bất an có lẽ vẫn không phải là đặc điểm đáng mơ ước nhất. Thế nhưng, việc thừa nhận cả điểm mạnh lẫn điểm yếu của nó có thể đem lại sự an ủi cho bất kỳ ai cảm thấy mình bị định nghĩa bởi những lo âu và sợ hãi. “Điều quan trọng là công chúng cần có một bức tranh nhiều sắc độ hơn,” Perkins nói. Thậm chí, ông còn cho rằng với một số người, “tính bất an có thể là một dạng siêu năng lực.”

Chiến lược để tìm lại sự bình tâm

Nếu bạn cảm thấy lo âu và bất an đang lấn át mình, các nghiên cứu tâm lý học có thể gợi ý một vài kỹ thuật giúp làm dịu cảm xúc và khiến những tiếng thì thầm tiêu cực trong đầu lắng xuống.

Một trong những chiến lược tôi yêu thích nhất là tạo khoảng cách với bản thân – tức là nhìn vấn đề của mình từ góc độ của người ngoài. Bạn có thể tưởng tượng rằng mình đang đưa lời khuyên cho một người bạn gặp phải tình huống tương tự. Thậm chí, bạn còn có thể tự nói chuyện với chính mình ở ngôi thứ ba, “David nghĩ rằng…” trong khi suy ngẫm về điều đang khiến bạn phiền lòng.

Kỹ thuật này nghe có vẻ hơi kỳ lạ, nhưng một khối lượng lớn các nghiên cứu khoa học cho thấy nó giúp ngăn chặn sự dằn vặt lặp đi lặp lại, đồng thời khuyến khích một thái độ suy tư và triết lý hơn trước hoàn cảnh hiện tại, nhờ đó bạn dễ tìm ra con đường tiến về phía trước mang tính xây dựng hơn. Và điều này còn có thể mang lại lợi ích lâu dài cho sức khỏe tinh thần. Chẳng hạn, một nghiên cứu gần đây của Ariana Orvell, phó giáo sư tại Bryn Mawr College, bang Pennsylvania, cho thấy một khóa học trực tuyến ngắn về cách thực hành tạo khoảng cách với bản thân đã làm giảm nguy cơ trầm cảm của người tham gia trong sáu tháng tiếp theo. Hiệu quả này đặc biệt rõ rệt ở những người có mức độ bất an cao, vốn là nhóm dễ tổn thương trước trầm cảm nhất.

Nếu việc tạo khoảng cách với bản thân không phù hợp với bạn, một thực hành hữu ích khác là chấp nhận và tái diễn giải, tức là cố gắng nhìn những nỗi lo và lo âu của mình một cách bình thản hơn. Không phủ nhận cảm xúc của bản thân, bạn có thể tự hỏi liệu những suy nghĩ đang chiếm lĩnh tâm trí mình có cơ sở thực tế vững chắc hay không, chúng có mang lại thông tin hữu ích để bạn hành động hay không, và liệu có cách diễn giải tích cực hơn cho sự việc ấy hay không. Dạng bài tập này có thể cần chút thời gian để thành thạo, nhưng các nhà trị liệu nhận thức – hành vi nhận thấy nó giúp thân chủ kiềm chế những vòng xoáy suy nghĩ “thảm họa hóa”.

Cách hiểu mới mẻ về tính bất an này chắc chắn đã làm thay đổi góc nhìn của chính tôi về thói quen lo lắng của mình. Xu hướng suy nghĩ quá nhiều về những thách thức của đời sống có thể là một phần con người tôi, nhưng giờ đây tôi có thể lựa chọn mình sẽ dấn sâu đến mức nào vào những nỗi sợ và bất an ấy. Tôi vẫn cảm thấy như một cơn bão đang kéo đến, nhưng kinh nghiệm mách bảo tôi rằng, rất nhiều lần, những đám mây rồi cũng sẽ tan đi, và con thuyền của tôi vẫn không bị lật úp. 

Tác giả: David Robson

Nguồn: Don’t fret, neurotics – there are advantages to worrying | The Guardian

menu
menu